Thứ Năm, 22 tháng 9, 2016

Trao Huy hiệu Đảng sao cho có ý nghĩa

Tấm Huy hiệu Đảng là sự ghi nhận của Đảng với công lao, đóng góp của đảng viên đã có những cống hiến cho Đảng, cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Huy hiệu Đảng còn là biểu tượng cao quý về sự phấn đấu, rèn luyện, cống hiến và trưởng thành của các đảng viên với Đảng, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Vì thế việc tổ chức trao Huy hiệu Đảng rất có ý nghĩa, thể hiện được sự tôn trọng những người đã xứng đáng được Đảng tôn vinh.


Ban Tổ chức Trung ương đã có Hướng dẫn số 12-HD/BTCTW  ngày 17 tháng 5 năm 2012 Hướng dẫn một số vấn đề cụ thể về nghiệp vụ công tác đảng viên và lập biểu thống kê cơ bản trong hệ thống tổ chức đảng. Trong đó đã có hướng dẫn rất cụ thể về nghi thức trao Huy hiệu Đảng cho đảng viên như sau: Lễ trao tặng Huy hiệu Đảng do đảng bộ cơ sở thực hiện, hình thức trang trí buổi lễ như buổi lễ kết nạp đảng viên với tiêu đề “Lễ trao tặng Huy hiệu Đảng”. Văn bản cũng hướng dẫn rất rõ về chương trình một buổi lễ từ việc chào cờ, tuyên bố lý do, giới thiệu đại biểu đến dự; đại diện đảng uỷ cơ sở đọc quyết định tặng Huy hiệu Đảng; đại biểu thay mặt BCH đảng bộ cấp trên trao tặng Huy hiệu Đảng cho đảng viên và phát biểu ý kiến; đảng viên được tặng Huy hiệu Đảng phát biểu ý kiến và ký vào sổ tặng Huy hiệu Đảng của đảng bộ, chi bộ cơ sở; chào cờ, bế mạc đến việc mời thành phần tham dự gồm toàn thể đảng viên của đảng bộ; nếu đảng bộ có đông đảng viên thì mời các đảng viên của chi bộ có đảng viên được tặng Huy hiệu Đảng và đại diện của các chi bộ khác.v.v...
Qua thực hiện, đến nay việc tổ chức trao tặng Huy hiệu Đảng cho đảng viên đủ tiêu chuẩn đã và đang trở thành một nét đẹp, nhân thêm niềm tự hào về Đảng. Từ những hướng dẫn chung đó, nhiều cấp uỷ đã có những cách làm sáng tạo làm tăng ý nghĩa của việc trao Huy hiệu Đảng, xem đây là một dịp để nêu gương những đảng viên đã có nhiều cống hiến, khơi dậy niềm tự hào và quyết tâm phấn đấu cho các thế hệ sau. Có cấp uỷ trong chương trình lễ còn thêm nội dung báo cáo tóm tắt những thành tích đóng góp đảng viên được nhận Huy hiệu Đảng; có cấp uỷ còn quy định bổ sung: "Từ 30 đến 40 tuổi Đảng sẽ do ban thường vụ cấp ủy huyện và tương đương tổ chức; từ 50 tuổi đảng trở lên sẽ do ban thường vụ tỉnh ủy chủ trì tổ chức việc trao tặng, nhằm để tôn vinh đúng mức những đảng viên có quá trình cống hiến lâu dài cho sự nghiệp cách mạng”.
Tuy vậy, vẫn còn những cấp uỷ xem việc trao Huy hiệu Đảng như một việc làm có tính thủ tục: không tổ chức lễ mà trao Huy hiệu Đảng nhân dịp học chuyên đề, nghị quyết, đảng viên 60 năm tuổi đảng, đảng viên 30 năm tuổi đảng đều do bí thư cơ sở đảng trao tặng, đảng viên được nhận huy hiệu không ký vào sổ tặng Huy hiệu Đảng....
Để việc trao Huy hiệu Đảng thực sự có ý nghĩa nên chăng cần quan tâm một số vấn đề sau đây:
Về nghi thức lễ: Các cấp uỷ đảng nên tổ chức riêng “Lễ trao tặng Huy hiệu Đảng” trang trọng và nghiêm túc theo hướng dẫn của Trung ương. Theo hướng dẫn có 4 đợt trao huy hiệu trong năm vào các dịp kỷ niệm 3-2; 19-5; 2-9 và 7-11, nhưng tùy điều kiện cụ thể của cơ sở đảng có thể tổ chức ít đợt hơn để có thời gian và chuẩn bị chu đáo cho buổi lễ. Nên có kế hoạch và bố trí lãnh đạo cấp uỷ cấp trên đến dự và trao tặng Huy hiệu Đảng. Trong trường hợp không có lãnh đạo cấp uỷ cấp trên thì nên tổ chức theo cụm hoặc khu vực để tạo không khí phấn khởi cho đảng viên.
Về người trao Huy hiệu Đảng: Có đại diện cấp uỷ cấp trên trao và phát biểu là cần thiết vì điều này không chỉ phù hợp với hướng dẫn của Trung ương mà còn làm cho buổi lễ thêm trang trọng. Nên chăng cấp uỷ có thể lựa chọn và mời một đồng chí có uy tín đã có Huy hiệu Đảng nhiều năm hơn trong đảng bộ cùng tham gia gắn Huy hiệu Đảng cho đảng viên ít tuổi đảng hơn. Điều này không chỉ có ý nghĩa với người nhận Huy hiệu Đảng để tiếp nối truyền thống mà còn khích lệ đảng viên có tuổi đảng cao tiếp tục phấn đấu, gương mẫu, nêu gương tốt cho các đảng viên trong đảng bộ noi theo.
Đối với người nhận Huy hiệu Đảng: Được nhận Huy hiệu Đảng là vinh dự và tự hào của mỗi đảng viên. Trong trường hợp có nhiều đảng viên cùng nhận Huy hiệu Đảng nên có một người đại diện phát biểu nêu rõ niềm vinh dự được nhận Huy hiệu Đảng và lời hứa tiếp tục phấn đấu nêu tấm gương sáng cho đảng viên trong đảng bộ thời gian tới. Bó hoa tặng người nhận Huy hiệu Đảng không cần phải to, nhưng nếu có thì sẽ thêm nhiều ý nghĩa. Nếu có thể mời thêm đại diện tổ chức đoàn thanh niên đến dự; các đảng viên có thể gửi tặng thêm những vần thơ, bài hát... tạo thêm dấu ấn cho sự kiện ý nghĩa này.
Việc tổ chức trao Huy hiệu Đảng - sự tôn vinh những tấm gương cống hiến cho Đảng, cho sự nghiệp cách mạng một cách trang trọng và nhiều ý nghĩa cũng là một cách thể hiện sự thuỷ chung với lý tưởng của Đảng, chung sức phấn đấu cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta.


                                                                                                9-2016

Chủ Nhật, 21 tháng 8, 2016

Tạo niềm tin với cử tri bằng sự nhiệt thành, tận tâm của người đại biểu


   Cuộc bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016-2021 đã thành công tốt đẹp. Những người trúng cử đã được phân công nhiệm vụ và đi vào hoạt động với tư cách mới là người đại biểu của nhân dân.
   Như vậy, công dân của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam sau bầu cử đã làm tròn nhiệm vụ dùng lá phiếu tín nhiệm của mình để chọn lựa, gửi gắm niềm tin cho người đại biểu đứng ra điều hành bộ máy Nhà nước từ Trung ương xuống đến các cấp ở địa phương. Cử tri đã hoàn thành một phần việc quan trọng: thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân để xây dựng bộ máy nhà nước của mình, vì mình và do mình sáng lập ra. Giờ đây cử tri còn phải lo một phần công việc rất nặng nề khác, dài hơi hơn là vừa phải hoàn thành phần công việc nghĩa vụ của công dân đối với Nhà nước đồng thời phải thường xuyên giám sát mọi hoạt động của người đại biểu, để nếu có đại biểu không đủ tín nhiệm thì kịp thời kiến nghị bãi nhiệm. Việc tưởng như rất đơn giản thế nhưng kết quả cụ thể lại tuỳ thuộc rất nhiều không chỉ phía nghĩa vụ của cử tri mà còn ở sự vận hành của Nhà nước ấy với sự hoạt động hữu hiệu của từng người đại biểu.
     Xưa nay, một Nhà nước mạnh không chỉ là chổ bộ máy Nhà nước ấy được tổ chức đồ sộ, có hệ thống công sở uy nghi, tráng lệ, với những mệnh lệnh có sức nặng lớn để rồi cử tri cứ thế thi hành. Ngược lại một Nhà nước mạnh thì điều rất cần lại là chổ Nhà nước ấy thực sự phát huy cao sức mạnh của cộng đồng cử tri; hay nói cách khác sức mạnh của Nhà nước chính là sức mạnh của nhân dân làm ra Nhà nước ấy. Đó chính là cội nguồn tạo nên sức mạnh của một Nhà nước kiểu mới “của dân, do dân và vì dân  ”.
       Nguyên lý giản đơn tưởng chừng như ai cũng hiểu; thế nhưng từ ngày ra đời đến nay, trong Nhà nước kiểu mới không ít những người đại biểu trong quá trình thực hành công vụ điều hành, đã không nhuần nhuyễn nguyên lý ấy. Bởi vậy họ dần đánh rơi niềm tin yêu của cử tri khi họ tự cảm nhận vai trò của mình trong Nhà nước này quá lớn. Họ đã tự mình “đánh rơi quyền lực”, vi phạm kỷ luật và phải rời bỏ cương vị người đại biểu trước khi hết nhiệm kỳ.
      Như thế một người đại biểu chân chính trước hết phải là người có đủ đức, đủ tài để hoàn thành nhiệm vụ và hơn thế người đại biểu phải được cử tri tin cậy. Muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ người đại biểu phải làm sao cho nhân dân tin tưởng để rồi mỗi lần tiếp xúc cử tri, người đại biểu nghe hiểu được tiếng nói của dân; dám nói lên tiếng nói của dân, dám bỏ sức bỏ công để mang lại lợi ích thiết thực chính đáng cho chính những người đã bỏ lá phiếu cho mình làm người đại biểu. Trong cơ chế kinh tế bao cấp việc làm này có yêu cầu và điều kiện khác, còn trong cơ chế kinh tế thị trường đây là vấn đề không dễ. Những quy luật cơ bản trong cơ chế thị trường như lợi ích, cạnh tranh, giá cả hoạt động một cách khách quan. Những người đại biểu không thể phủ nhận nó mà chỉ có thể tìm cách hạn chế những tác động xấu mà thôi. Bởi vậy dưới những tác động của các quy luật đó niềm tin của cử tri cũng bị chi phối rất nhiều. Đây là điều mà người đại biểu luôn luôn cần nhớ để tìm cách phát huy dân chủ cao và hạn chế tối đa việc điều hành theo kiểu mệnh lệnh hay chỉ huy theo chiều trên xuống như thời cơ chế cũ. Nơi nào đó còn rơi rớt kiểu vận hành theo cơ chế cũ trong bộ máy Nhà nước, nơi đó sẽ làm mất niềm tin của tri và hệ quả là mất hiệu lực trong vai trò điều hành của Nhà nước. Trong thời kỳ thông tin bùng nổ, mọi chủ trương, việc làm, lời nói của người đại biểu được cử tri trao đổi rất nhanh cả những ưu điểm lẫn hạn chế khuyết điểm. Điều này tạo ra nhiều thuận lợi nhưng cũng đồng thời làm xuất hiện thêm những khó khăn, thách thức cho người đại biểu. Buộc người đại biểu không chỉ lo công việc điều hành trước mắt của từng địa phương mà cần phảỉ có một sự đầu tư cần thiết cho việc thu lượm thông tin đa chiều và không chỉ lo phần hành tại chổ mà còn phải bao quát tình hình chung với tầm nhìn rộng lớn hơn. Mọi tác động của người đại biểu dù xẩy ra bất cứ nơi đâu đều được muôn vàn cử tri chia xẻ, xem xét, đánh giá, bình luận một cách kịp thời và được dừng lại ở nơi cử tri có trí tuệ.
       Người đại biểu phải luôn nhớ và thực hiện tốt những điều đã hứa với cử tri trước khi bầu cử. Khi đã trúng cử chớ vội lên mặt “làm quan cách mạng”, để rồi tất cả những tuyên ngôn ứng cử chỉ còn là nghi thức, nay xong rồi như gió thoảng mây bay. Hứa mười làm một; nói không đi đôi vơí làm là tiền đề của sự tha hoá, xa rời sức sống của cộng đồng tự mình đánh mất niềm tin yêu của cử tri.
       Thực tế cho thấy mọi đại biểu nhiệt thành, tận tâm với nhiệm vụ; đặc biệt là thái độ sốt sắng với những gì gắn với lợi ích thiết thực của người dân đang đặt ra trong cuộc sống thì cử tri luôn yêu mến tin tưởng. Cử tri sẽ dồn tình cảm và sự ngưỡng mộ với người đại biểu ấy. Nếu không may đại biểu có những sai sót nhỏ biết tiếp thu sữa chữa thì luôn được cử tri lượng thứ. Đã đến lúc cử tri quan tâm đến thái độ, hành động, việc làm của đại biểu chứ không cần nhiều những lời hoa mỹ hay chấp hành thuận chiều như trong thời kỳ chiến tranh chống giặc ngoại xâm. Người đại biểu trước hết phải thể hiện được lòng nhiệt thành, niềm tin cao độ vào định hướng việc làm của mình để nổ lực phấn đấu, cống hiến. Lời nói việc làm cần rõ ràng trong sáng; nói và làm luôn đi đôi với nhau nhằm đem lại lợi ích chung trong đó có mình. Cử tri sẽ không tin tưởng nếu có những đại biểu dùng thủ pháp, mưu mẹo để thuyết phục dân thay cho sự tận tâm, tân lực phấn đấu. Đại biểu luôn tin dân, dựa vào dân, lo cái lo của dân thì cử tri cũng sẽ tin yêu sát cánh cùng đại biểu phấn đấu hoàn thành mọi mục tiêu đã định. Đây là mối quan hệ biện chứng trong mọi Nhà nước, còn khi mối quan hệ biện chứng ấy không còn thì người đại biểu vô hình trung đã đánh mất vai trò đại biểu của mình trong thực tiễn.
        Thực tế cho thấy, từ một chủ trương cụ thể trong cùng một điều kiện, một chương trình dự án như nhau có nơi triển khai nhanh chóng, có nơi không thực hiện được; bởi ở đó có hiện tượng “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược”, cán bộ không công tâm, nặng tính toán lợi ích riêng, không tạo điều kiện để người dân được quyền làm chủ... niềm tin của cử tri vào người đại biểu bị giảm sút. Cử tri không còn mặn nồng với những gì đại biểu đưa ra; đó là dấu hiệu của sự suy yếu trong dây chuyền của bộ máy chính quyền Nhà nước cần được chấn chỉnh.
        Để làm tròn vai trò của mình, người đại biểu nhất thiết phải xây dựng được niềm tin của quần chúng. Một trong những giải pháp quan trọng không thể bỏ qua đó là Người đại biểu phải biết tạo niềm tin với cử tri bằng hành động cụ thể, sự phấn đấu nhiệt thành, tận tâm với công việc mọi lúc mọi nơi ./.



                                                                                         6-2016

Thứ Bảy, 6 tháng 8, 2016

Một số kinh nghiệm về công tác nghiên cứu, biên soạn lịch sử Đảng bộ

Viết sử là tái hiện lại lịch sử bằng ngôn ngữ viết, là tổng kết lại lịch sử để rút ra những bài học có ý nghĩa, tiếp thêm niềm tin sức mạnh giúp các thế hệ sau làm nên những trang sử mới tốt đẹp hơn.
      Tuy nhiên một cuốn sử dù công phu đến mấy vẫn không thể diễn tả hết lịch sử và không thể thoát khỏi dấu ấn phong cách, quan điểm, sự nhìn nhận của người cầm bút cũng như sự chi phối Ban chỉ đạo biên soạn cuốn sách. May chăng các nhà viết sử chỉ tái hiện được những nét cơ bản nhất, xuyên suốt chiều dài lịch sử để người đọc hiểu đúng bản chất của tiến trình lịch sử đã qua. Hơn nữa tuỳ theo tính chất từng loại sử mà mỗi sự kiện, hiện tượng lịch sử được tái hiện theo những góc độ, liều lượng khác nhau. Tất cả mọi cuộc tập huấn nghiệp vụ Biên soạn lịch sử bổ ích cũng chỉ là sự cung cấp những nguyên lý chung, phương pháp chung nhất chứ không thể nào làm thay được những người cầm bút trong những môi trường, điều kiện cụ thể của mỗi địa phương. Chẳng hạn: mọi người nghiên cứu biên soạn lịch sử đều phải theo phương pháp logich và phương pháp lịch sử. Nhưng logich những vấn đề gì, lịch sử đến mức độ nào của những sự kiện thì chỉ có những nhà chuyên môn mới có thể định liệu được...
      Hiện nay Hà Tĩnh đã có 61% số xã biên soạn và xuất bản được cuốn lịch sử Đảng bộ. Số còn lại chưa tổ chức biên soạn được chủ yếu tập trung vào ba nhóm đặc thù. Thứ nhất là thiếu đội ngũ cán bộ có hiểu biết chuyên môn nghiệp vụ biên soạn lịch sử Đảng. Thứ hai là thiếu nguồn tài chính cần thiết để tổ chức biên soạn và thứ ba là nhóm Đảng bộ mới ra đời do sự biến động về mặt tổ chức.
     Để giải quyết cụ thể cho từng loại hình Đảng bộ này, thực ra không phải không thể nào làm được. Chúng ta có thể tìm đến cơ quan chuyên môn thuê người viết, tạo nguồn kinh phải bằng cách xã hội hoá, tìm nguồn tài trợ kết hợp với xây dựng kế hoạch tài chính từ đầu năm. Đối với những Đảng bộ còn ít thời gian thì có thể viết theo các thể loại khác như mấy năm hoạt động của Đảng bộ; sự kiện chủ yếu của Đảng bộ thay cho cuốn lịch sử Đảng bộ.....Cuốn Lịch sử Đảng bộ Hà Tĩnh tập III, được thành lập Ban chỉ đạo từ năm 2002, phải qua thêm 2 lần thành lập Ban chỉ đạo nữa đến tháng 4 năm 2009 mới quyết định được việc giao người đi tìm thuê chuyên gia nghiên cứu biên soạn và xuất bản được sách vào năm 2011.
     Từ thực tế theo dõi và trực tiếp thanm gia biên soạn nhiều cuốn sách Lịch sử Đảng bộ chúng tôi xin nêu một số kinh nghiệm về công tác nghiên cứu biên soạn như sau:
     1. Muốn tổ chức Biên soạn được Lịch sử Đảng bộ đúng nghĩa và đảm bảo yêu cầu thì việc làm cần thiết đầu tiên là làm tốt công tác tư liệu. Đây là khâu có ý nghĩa quyết định đến chất lượng cuốn sách. Bới nếu chúng ta có đội ngũ cán bộ có chuyên môn viết lịch sử Đảng bộ nhưng không có nguồn tư liệu cần thiết thì người viết giỏi mấy củng đành bó tay. Tư liệu Lịch sử Đảng cần có là gì ? Đó là toàn bộ Các tài liệu báo cáo, nghị quyết, văn bản đệ trình, kết quả các kỳ Đại hội Đảng bộ. Các loại Báo cáo hàng năm gửi cấp trên; Sổ ghi biên bản các nhiệm kỳ; tài liệu ghi chép một số sự kiện tiêu biểu, cách giải quyết bằng sự lãnh đạo của Đảng bộ, cấp uỷ địa phương; sự kiện tạo ra bước ngoặt của Đảng bộ; Văn bản những ý kiến đánh giá chỉ đạo của cấp uỷ cấp trên với Đảng bộ; Báo cáo hàng năm của chính quyền, các đoàn thể, tổ chức quần chúng trong Đảng bộ; Danh hiệu đạt được, thành tích khen thưởng các loại...... Nhìn vào danh mục đó chúng ta sẽ thấy sự khác biệt cuốn Lịch sử Đảng với mọi cuốn sách có dạng sử thông thường.
   Đối với những Đại hội đã quá lâu không còn tài liệu chúng ta cần đi sưu tầm, thu nhận hồi ký, tổ chức thẩm định tài liệu; sau đó cấp uỷ xác thực đóng dấu niêm phong . Viết Lịch sử Đảng phải theo tài liệu của Đảng tuyệt đối không dựa vào hồi ký, nhớ lại, theo tài liệu của địch, tài liệu không được thẩm định, suy diền.... làm căn cứ gốc để viết. Đây là điều đáng tiếc cho những cuốn sử đã xuất bản không được tổ chức thẩm định khoa học.
     2. Đối với cán bộ biên soạn: Hiện nay đội ngũ cán bộ sử học của Hà Tĩnh khá đông. Tuy nhiên đội ngũ này có rất nhiều chuyên ngành khác nhau ngoài chuyên ngành Lịch sử Đảng của Đại học KHHNV (được đào tạo để nghiên cứu biên soạn Lịch sử Đảng); Như thế không phải cán bộ nào cũng đều có sở trường nghiên cứu biên soạn lịch sử Đảng kể cả giảng viên Lịch sử Đảng. Do đó khi chọn lựa người viết nên chọn đúng chuyên ngành hoặc là những người đã có kinh nghiệm tham gia viết Sử Đảng. Một thực tế ở địa phương là không thể làm theo quy trình chính quy như: xây dựng ý tưởng, xây dựng đề cương sơ lược, đề cương chi tiết, hội thảo đề cương, viết bản thảo, tổ chức hội thảo nhiều lần.....Có một kinh nghiệm quan trọng là khi có đủ tài liệu cần thiết, hợp đồng khoán trọn gói cho người chuyên trách viết Lịch sử Đảng hoặc tìm người viết thảo chi tiết, sau đó thuê chuyên ngành biên tập và nâng cấp. Khi đã có bản thảo nếu có thể được thì tổ chức hội thảo sữa chữa bổ sung để bỏ qua được rất nhiều thời gian quá độ, đây là khâu then chốt quyết định chất lượng bản thảo.
     3. Về mốc thời gian: Viết Lịch sử Đảng Bộ là viết lại quá trình Hoạt động Lãnh đạo của Đảng bộ bao gồm các chủ trương của Đảng qua các nghị quyết; việc tổ chức thức hiện các chủ trương ấy đúng sai thế nào; kết quả được thể hiện ở các tổ chức đoàn thể nhân dân và những bài học thành công hay chưa thành công của Đảng bộ. Vì thế mộc thời gian của từng thời kỳ có phần gần nhau tương đối giữa các Đảng bộ, nhưng không có nghĩa là Lịch sử của các Đảng bộ phân chia thời gian giống hệt nhau. Mỗi Đảng bộ tuỳ mốc Lịch sử tạo bước ngoặt mà phân chia cho phù hợp. Thời gian dừng lại của mỗi cuốn sử củng là vấn đề cần quan tâm; vì Lịch sử Đảng mang tính Đảng và do cấp uỷ chịu trách nhiệm xuất bản. Cuốn sử viết ra thường  gắn liền với dấu ấn của các cấp lãnh đạo vì thế không nên viết đến tận ngày hôm nay để đảm bảo tính khách quan khoa học và có giá tri lâu dài..........

      Còn rất nhiều kinh nghiệm khác, có dịp chúng tôi sẽ trở lại. Vì ý nghĩa của nó rất mong các tổ chức Đảng luôn có sự phân công tạo thuận lợi cho công việc biên soạn về sau./.                                                                               
                                                                        
                                                                                           7-2016

Thứ Hai, 4 tháng 4, 2016

Làm gì để cử tri thực hiện nghiêm quyền và nghĩa vụ bầu cử

  
        ĐCSVN  Quyền bầu cử và ứng cử là những quyền chính trị cơ bản của công dân được quy định trong Hiến pháp - đạo luật cơ bản, có hiệu lực pháp lý cao nhất trong hệ thống pháp luật của Nhà nước.  Điều 27,  Hiến pháp năm 2013 của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã xác định: “Công dân đủ 18 tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ 21 tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, HĐND. Việc thực hiện các quyền này do luật định”. Bản hiến pháp cũng xác định một cách dứt khoát tại khoản 1, điều 15 trong chương Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân rằng: “Quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân”.
         Luật là vậy, tuy nhiên để mọi người dân chấp hành nghiêm mọi điều luật định là công việc không hề đơn giản. Bởi nó tuỳ thuộc rất nhiều yếu tố như trình độ hiểu biết và ý thức chấp hành pháp luật của người dân; năng lực điều hành của của bộ máy nhà nước ở từng địa phương; môi trường và điều kiện đảm bảo việc thực thi pháp luật...Tất cả những điều này có mối quan hệ ràng buộc với nhau. Nếu  thiếu bất cứ khâu nào thì mọi nổ lực và việc tuyên ngôn của luật pháp chỉ là điều sáo rỗng. Hiệu lực của luật pháp sẽ rất ít hiệu quả.
        Hiện nay sau sự kết thúc rất thành công của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII; đặc biệt là sự chỉ đạo của Trung ương về công tác bầu cử đã được các cơ quan truyền thông đưa đến mọi người dân. Khi mà chỉ thị số 51 của Ban chấp hành Trung ương chỉ rõ những việc cần làm:
  Giới thiệu những người tiêu biểu, có quan điểm, lập trường chính trị vững vàng, đủ tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật, có năng lực, điều kiện thực hiện nhiệm vụ đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân.
  Không đưa vào danh sách ứng cử người có biểu hiện cơ hội chính trị, tham vọng quyền lực; có tư tưởng cục bộ, bảo thủ; đang bị thanh tra, kiểm tra dấu hiệu vi phạm; đã bị các cơ quan có thẩm quyền kết luận không trung thực; người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị để xảy ra những vụ, việc tham nhũng, lãng phí, mất đoàn kết nghiêm trọng.
  Lãnh đạo bầu đủ số lượng đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp, đặc biệt coi trọng chất lượng đại biểu.
  Giảm hợp lý số đại biểu công tác tại cơ quan hành chính; tăng số lượng đại biểu chuyên trách; bảo đảm tỉ lệ người ứng cử là phụ nữ, người dân tộc thiểu số theo đúng quy định của Luật Bầu cử.
   Bổ sung tỉ lệ hợp lý đại biểu đại diện các hiệp hội, nghiệp đoàn về các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh.
   Phát huy quyền làm chủ của nhân dân không chỉ trong việc lựa chọn, giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân mà còn trong công tác bầu cử.
        Có thể nói rằng những điều trên đây đang nhân lên niềm tin tưởng với nhiều kỳ vọng của người dân vào nhiệm kỳ tới bao nhiêu, thì sự kiện bầu cử cơ quan Nhà nước ở Trung ương và địa phương sắp tới lại càng được người dân quan tâm bấy nhiêu. Hiện nay cuộc bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp đang được triển khai khẩn trương tích cực. Việc tổ chức hiệp thương lựa chọn những người xứng đáng đại biểu cho người dân trong tổ chức Quốc Hội và Hội đồng nhân dân ở các địa phương đang tạo sự quan tâm của cộng đồng dân cư và ngày hội lớn của mọi miền đất nước đang đến rất gần.
       Để cử tri thực hiện nghiêm quyền và nghĩa vụ công dân trong cuộc bầu cử đang mở ra cơ hội và rất nhiều điều kiện thuận lợi; tuy nhiên cũng rất cần những công việc cụ thể. Trước hết, toàn Đảng, toàn dân đang rất cần phát huy cao độ những thành công của Đại hội Đảng bằng những việc làm thiết thực vì cuộc sống và hạnh phúc của nhân dân. Theo tinh thần quyết tâm đổi mới của Đại hội Đảng, mỗi địa phương đơn vị cần soát xét lại những vấn đề nổi cộm đang được người dân quan tâm và tập trung giải quyết dứt điểm. Chắc chắn rằng đây là điều mà mọi cử tri mong muốn nhất. Làm như vậy sẽ có sức lan toả và thu hút lòng tin của mọi người dân trước sự kiện lớn của đất nước quê hương.  Bởi “Một tý hành động còn hơn một tá cương lĩnh”.
      Cùng với việc thực hiện và chấn chỉnh những tồn tại, hạn chế, khuyết điểm là việc đẩy mạnh tuyên truyền công tác bầu cử để mọi người hiểu rõ hơn và có trách nhiệm đầy đủ hơn với quyền và nghĩa vụ của chính mình trong cuộc bầu cử quan trọng này. Việc tuyên truyền bầu cử phải luôn gắn với việc tuyên truyền kết quả sự lãnh đạo chỉ đạo hoàn thành nhiệm vụ chuyên môn, kết quả của cuộc vận động xây dựng chỉnh đốn Đảng, công cuộc cải cách hành chính... Rốt cuộc mọi cử tri vẫn không thể không nghĩ rằng xong bầu cử cuộc sống vật chất và tinh thần của mình có gì đổi mới.
      Để cử tri thực sự tự giác thực hiện nghiêm quyền và nghĩa vụ bầu cử, trong quá trình chuẩn bị bầu cử; các cấp, các ngành phải thực hiện tốt công tác tổ chức hiệp thương giới thiệu người ra ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp, bảo đảm việc lựa chọn, giới thiệu người ứng cử chặt chẽ, đúng tiêu chuẩn, đảm bảo cơ cấu, đúng quy trình và làm đúng theo chỉ thị của Đảng; phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong việc lựa chọn, giới thiệu người ứng cử đại biểu; tạo điều kiện thuận lợi để mọi công dân thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình trong quá trình thực hiện cuộc  bầu cử.
      Xưa nay công việc chuẩn bị cho một cuộc bầu cử phần nhiều là do các cơ quan bầu cử và các bộ phân liên quan; nhất là việc chuẩn bị nhân sự cho cuộc hiệp thương đầu tiên. Tuy nhiên để cử tri thực hiện nghiêm quyền và nghĩa vụ bầu cử thì việc lựa chọn người đại biểu cần được để cử tri tiếp cận càng sớm càng tốt, không nhất thiết chỉ cần đủ số ngày theo luật định; đồng thời không nên can thiệp bằng tổ chức để rồi  thay đổi đại biểu ứng cử từ vùng này sang vùng khác khi nhận thấy sự phản ứng và tín nhiệm không cao của cư tri nơi đại biểu ứng cử.
       Tất cả những thông tin liên quan đến đại biểu như hoàn cảnh gia đình, người thân, quá trình phấn đấu rèn luyện và việc minh bạch về tài sản cần phải làm thật tốt trước ngày niêm yết danh sách đại biểu với khu vực ứng cử để giải quyết thoả đáng mọi điều băn khoăn của cử tri.
        Cuối cùng là việc bố trí địa điểm bầu cử phải được chuẩn bị chu đáo. Nơi cử tri thể hiện quyền và nghĩa vụ thiêng liêng của mình trong việc chọn lựa người đại biểu không chỉ cần có không gian trang trí đẹp, thuận tiện trong việc tiến hành bầu cử mà còn phải có chổ phù hợp đảm bảo quyền lựa chọn độc lập về sự tín nhiệm trong lá phiếu của mình mà không chịu sự chi phối của bàn tư vấn cho các cử tri khi có yêu cầu.
        Làm tốt những việc trên đây sẽ mang đến cho cử tri một sự tin tưởng vào người đại biểu cho mình tham gia bộ máy quản lý nhà nước. Cử tri sẽ hoàn toàn yên tâm đi lựa chọn người đại biểu chân chính của mình; đồng thời thấy được giá trị thực của chế độ dân chủ mà thực hiện nghĩa vụ công dân của mình một cách đầy đủ nhất trong cuộc bầu cử quan trọng này./.

                                                                                                3-2016


Thứ Bảy, 15 tháng 8, 2015

Ký ức thân thương về anh bộ đội cụ Hồ

   Kỷ niệm 70 năm thành lập Lực lượng Vũ trang Hà Tĩnh 18/8/1945-18/8/2015
             Gia đình tôi thuộc diện di dời từ miền xuôi lên miền núi. Hồi đó dân cư thưa thớt lắm, đi hàng tiếng đồng hồ mới có nhà dân. Nhà tôi nằm ở xóm cuối của Xã biên giới Hương Điền, thuộc huyện Hương Khê (nay thuộc huyện Vũ Quang, Hà Tĩnh). Trước ngày Thủ tướng Chính phủ ra Nghị định 100/TTg  thống nhất các đơn vị bộ đội làm công tác bảo vệ nội địa, bảo vệ biên giới với các đơn vị công an biên phòng để thành lập lực lượng Công an nhân dân vũ trang ngày 3-3-1959; Trạm bảo vệ nội địa biên giới đóng tại thôn Kim Quang, xã Hương Quang còn do lực lượng bộ đội đảm nhiệm. Ở đó có một đơn vị bộ đội thuộc tỉnh đội phụ trách- người dân quen gọi Đồn bộ đội.
     Đo địa hình núi non hiểm trở, đường sá đi lại chỉ theo những lối mòn quen thuộc nên việc đi công tác ngược xuôi của bộ đội mất rất nhiều thời gian. Nhà tôi như một trạm dừng chân trên đường từ tỉnh về đồn và ngược lại của anh em chiến sĩ. Bộ đội đi bộ hoặc đi ngựa đều ghé qua nhà tôi nghỉ chân. Hồi trước phương tiện đi lại tối ưu của đơn vị là dùng ngựa, tôi thường mãi mê ngắm nhìn những chú ngựa khi cho nó bắp ngô, để rồi sau đó nó lại lên đường làm nhiệm vụ. Có lẽ đến bây giờ tôi mới hiểu vai trò của nó khi mình đã được ngồi trên những chiếc xe thư thái với đôi chân không mỏi. Gia đình tôi như người nhà thân thiết của đồn. Mỗi lần tết đến xuân về, chỉ huy đồn lại cho mời chúng tôi về đồn chơi để cùng vui tết. Còn nhỏ nên tôi ấn tượng nhất là được các anh cho đi xem súng đạn, quân trang quân dụng...thứ nào cũng xếp hàng ngay ngắn, gọn gàng, trật tự trông rất đẹp mắt. Các anh còn nói với tôi  rằng có làm như vậy, khi cần mới lấy nhanh được, chẳng ai còn phải đi tìm. Điều này cứ đọng mãi trong tôi trong quá trình lớn lên. Về sau làm bất cứ công việc gì tôi cũng lo đầu tư sắp xếp có quy tắc riêng. Những ngày còn đang công tác, tôi luôn là người đáp ứng nhanh nhu cầu tra cứu tài liệu khi cần cho đồng nghiệp.
        Khi còn nhỏ chúng tôi quý anh bộ đội vô cùng. Các bậc cha anh thường nói với chúng tôi rằng: các anh là bộ đội cụ Hồ, là người thường xuyên sẵn sàng đi đánh giặc bảo vệ cuộc sống bình yên cho mọi xóm làng và là chổ dựa vũng chắc chắc của chúng ta. Tôi lớn lên đi học xa nhà, đường rừng xa xôi héo lánh, lại không có bạn đi cùng. Nhiều hôm phải đi một mình trên những quảng đường trong rừng đại ngàn đêm, mưa và sợ. Biết như vậy các anh là người động viên cổ vũ có hiệu quả nhất. Hồi đó có anh bộ đội của đồn tên là Tòng đã động viên tôi: chẳng có gì phải sợ; các anh còn đi lại thường xuyên trong rừng mà. Nhưng điều làm tôi vui nhất là anh còn cho một chiếc dao găm làm bằng xác máy bay địch. Trong chặng đường rừng cây cối um tùm tôi luôn mang theo, không phải để chơi, để hù doạ ai mà để chặt cây làm gậy đi đường, làm vũ khí tự vệ khi cần thiết. Nó được xem như một thứ bảo bối về sức mạnh hộ mệnh, giúp tôi thêm vững bước. Bây giờ không còn biết anh ở đâu, chiếc dao lâu quá đã không còn, song tôi vẫn rất biết ơn anh về kỷ vật đáng quý ấy. Chính anh bộ đội là người đã sớm giúp tôi vững vàng hơn, quyết tâm hơn vượt hoàn cảnh khó khăn để vươn lên trong cuộc sống.
         Lớn lên tôi càng hiểu thêm về giá trị của sự tự rèn luyện. Tôi không có thời gian trong quân ngũ nhưng tôi rất chăm lo rèn luyện tự vệ. Tôi thích nội vụ gọn gàng còn nhờ được làm sinh viên cùng bộ đội đi học. 6 anh em ở chung phòng, chỉ tôi là sinh viên trẻ. Tôi tuân thủ quy tắc các anh, chăn màn ngủ xong lúc nào cũng phải vuông thành sắc cạnh. Tư trang, quần áo, dép mũ để dúng chổ quy định.... Thời gian sinh viên sơ tán tại Yên phong Hà Bắc vào năm 1972, tôi biết bơi dài hơn là vì đã cùng tập bơi sáng ngược dòng sông Cầu với mấy anh bộ độ Hải quân cùng lớp. Tôi rất mê súng và luyện tập bắn súng nên cũng không mấy bất ngờ và thường đạt kết quả cao khi bắt súng đạn thật ở các kỳ huấn luyện tự vệ và bắn súng ngắn tại trường huấn luyện cán bộ dân sự ở  Quân khu...
        Thế hệ cao tuổi hôm nay chắc chẳng mấy ai không có những kỷ niệm đẹp về anh bộ đội. Không chỉ lúc trong quân ngũ mà ngay khi hoàn thành nhiệm vụ trở về; hình ảnh đẹp của anh bộ đội cụ Hồ vẫn luôn được toả sáng trên mọi nẻo đường,  mọi lĩnh vực với sức sống,  nghị lực và chất cứng rắn kiên cường, sẵn sàng hy sinh vì dân vì nước vì lẽ phải.
      Cũng chẳng phải nói gì nhiều về những chiến công lẫy lừng trong lịch sử, vì cuộc sống đã và đang đi về với thực tại. 70 mươi năm đi qua với nhiều thử thách và chiến công;  lực lượng vũ trang Hà Tĩnh, đã để lại biết bao kỷ niệm đẹp trong lòng người dân. Trong tôi vẫn luôn hiện về hình ảnh bình dị, thân thương của anh bộ đội, người đã tiếp sức cho tôi lớn lên trong chặng đường đời. Trong thử thách của sự nghiệp đổi mới hôm nay, tôi mong và tin các anh không bao giờ làm mờ nhạt niềm tin yêu của tổ quốc và nhân dân./.

                                                                                                                          8-2015

Thứ Năm, 13 tháng 8, 2015

Cách mạng tháng Tám Hà Tĩnh thành công khi ý Đảng lòng dân thống nhất

    Trong mọi cuộc cách mạng trên thế giới từ xưa đến nay, người dân bao giờ cũng là động lực và là lực lượng hùng hậu đưa đến sự thành công hay thất bại. Lực lượng hùng hậu ấy họ thông minh hơn bất cứ mọi lãnh đạo thông minh nhất. Khi Lãnh đạo đã thu phục được quần chúng nhân dân đông đảo thì mọi khó khăn, trở ngại đều được tháo gỡ để đi đến mục tiêu cuối cùng.
     Ngày 18-8-1945, chính quyền cấp tỉnh đã về tay nhân dân, Hà Tĩnh trở thành một trong bốn tỉnh cả nước giành được chính quyền sớm nhất. Cuộc khởi nghĩa giành chính quyền cách mạng tháng Tám năm 1945 ở Hà Tĩnh được cho là đã nắm chắc tư tưởng chỉ đạo của Trung ương Đảng, nhằm đúng thời cơ, tổ chức chặt chẽ sáng tạo, giành thắng lợi trọn vẹn, không có sự đổ máu và diễn ra nhanh chóng. Thế nhưng tìm hiểu việc tổ chức chỉ đạo đấu tranh giành chính quyền trong cách mạng tháng Tám luôn là đề tài bổ ích và lý thú đối với mọi cán bộ nghiên cứu và chỉ đạo thực tiễn. Bởi chính cuộc khởi nghĩa giành chính quyền tháng Tám năm 1945 của Hà Tĩnh vẫn có những đặc điểm riêng không giống với nhiều địa phương khác.
       Theo nguyên lý chung, một cuộc cách mạng muốn giành thắng lợi phải được nổ ra ở nơi kẻ thù suy yếu nhất, tổ chức lãnh đạo cách mạng phải đủ mạnh và quần chúng cách mạng đã chuẩn bị sẵn sàng nhất. Phải chăng Hà Tĩnh là địa phương có tổ chức Đảng mạnh nhất, kẻ thù suy yếu nhất và là nơi đã chuẩn bị đầy đủ nhất cho việc khởi nghĩa giành chính quyền ?. Thực tế cho thấy cuộc khởi nghĩa tháng Tám tại Hà Tĩnh đã không hoàn toàn như vậy.
       Cuộc Khởi nghĩa của Hà Tĩnh bùng nổ khi Đảng bộ đang gặp khó khăn nhất; hệ thống tổ chức Đảng từ tỉnh xuống cơ sở đã bị kẻ địch phá vở nhiều lần. Hầu hết các đồng chí cán bộ, đảng viên ưu tú bị kẻ địch bắt giam giữ trong các nhà tù sau nhiều đợt vây quét khủng bố khốc liệt. Trong đó phải kể tới những thời kỳ vô cùng khó khăn như những năm sau 1930-1931, thời kỳ kẻ địch khủng bố đàn áp phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh. Tiếp đến là thời kỳ sau chiến tranh thế giới thứ II bùng nổ, Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định giải tán các tổ chức nghiệp đoàn, cấm các hoạt động của Đảng cộng sản... Đến tháng 5 năm 1940 Tỉnh uỷ lâm thời do đồng chí Trần Quỳ,  Xứ uỷ Trung kỳ chỉ đạo mới được thành lập gồm 5 đồng chí. Sau đó một số địa phương lập lại huyện uỷ như Hương Sơn, Can Lộc, Hương Khê... Nhưng sau cuộc tập kích đồn điền Ferey và việc tổ chức ám sát tên Bang tá Hồ Dũng Tài của Chi bộ Song Con, Cẩm Lĩnh (Hương Sơn) vào tháng 5-1941, thì tổ chức Đảng lại bị kẻ địch triệt phá hoàn toàn. Gần như đến ngày khởi nghĩa hệ thống tổ chức Đảng chưa được khôi phục.
          Thời kỳ tiền khởi nghĩa, Hà Tĩnh vẫn là nơi kẻ địch tăng cường đàn áp, khủng bố và thực hiện nhiều chính sách bóc lột tàn bạo. Thực dân Pháp một mặt phát xít hoá bộ máy thống trị, thẳng tay đàn áp những người có tinh thần yêu nước. Mặt khác chúng dùng thủ đoạn dã nhân, dã nghĩa lừa phỉnh nhân dân đồng thời đẩy mạnh chính sách vơ vét sưu thuế, gia tăng sức bóc lột.. Nhiều chính cách hà khắc được thực dân Pháp triễn khai ở Hà Tĩnh như hạn chế việc đi lại, đọc sách báo, hội họp, mít tinh của nhân dân. Tuyển thêm lính kín, lính khố xanh, cho mật thám giả danh làm người buôn lợn, buôn bò, ăn xin trà tộn trong dân để dò la tin tức, điều tra hoạt động cộng sản. Các phường hội như Tương tế, Ái hữu bị đặt ra ngoài vòng pháp luật. Những người đứng đầu các tổ chức đều bị bắt bớ, xét hỏi, bị phạt tiền....(1).. Riêng ở Hương Sơn, chỉ sau 2 tháng sau vụ Bang tá Hồ Dũng Tài bị giết đã có 170 người bị bắt, 30 người bị xử bắn.
         Trước ngày khởi nghĩa đến gần, các tổ chức quần chúng hoạt động vẫn còn rất manh mún và bị phân tán, chịu nhiều nguồn tổ chức chỉ đạo khác nhau. Khi mặt trận Việt Minh Nghệ Tĩnh đã triễn khai kế hoạch khởi nghĩa thì các địa phương vẫn còn rất nhiều ảnh hưởng hoạt động của các tổ chức khác nhau như Đảng cộng sản, Thanh niên Phan Anh, Chính phủ Trần Trọng Kim, Lực lượng thân Pháp, thân Nhật .v.v.....Bởi vậy, trong cùng một địa phương, trong cùng một thời gian đã có lúc quần chúng chịu sự chỉ đạo của hai tổ chức cách mạng. Mặt trận Việt Minh mà nòng cốt là đảng viên cộng sản có địa phương cũng đã hình thành hai nhóm hoạt động tách rời nhau như ở Hương Sơn, Nghi Xuân...
           Thế nhưng quần chúng cách mạng sau nhiều lần diễn tập và đã có sự thử thách hy sinh qua cao trào cách mạng 1930-1931, 1936-1939, 1939-1945, họ đã hiểu rõ giá trị của mục tiêu Độc lập tự do và con đường mà Đảng cộng sản đang nổ lực phấn đấu. Những người cộng sản bằng xương bằng thịt đã kiên cường không tiếc máu xương lăn lộn cùng nhân dân, đấu tranh anh dũng, chịu đòn roi tra tấn và đã phải hy sinh cùng trận tuyến với nhân dân. Quần chúng nhân dân đủ điều kiện để hiểu rằng mục tiêu phấn đấu của những người cộng sản lúc bấy giờ với toàn thể nhân dân là một. Vì thế mà những người cộng sản sẵn sàng hy sinh vì dân vì nước và ngược lại người dân cũng sẵn sàng hy sinh vì mục tiêu của Đảng của dân tộc.
      Có thể nhận thấy rằng, từ sau Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương Đảng tháng 2-1943 và việc thành lập tổ chức mặt trận Việt Minh, gần như khắp nơi trong cả nước đã có bước chuẩn bị trong ý thức về cuộc khởi nghĩa đang đến gần. Việt Minh đóng vai trò như hệ thống tổ chức do Đảng làm nòng cốt đứng ra lãnh đạo cuộc khởi nghĩa. Trên địa bàn Hà Tĩnh các huyện đã được chia ra nhiều phân khu khác nhau, chịu sự chỉ đạo của nhiều tổ chức Việt Minh khác nhau. Nghi Xuân thuộc phân khu Vinh Bến thủy (Nghệ An); Đức Thọ, Hương Sơn, Hương Khê thuộc phân khu La Hương Hương. Các huyện thị còn lại thuộc Phân khu Nam Hà. Đó là những phân khu do Việt Minh liên tỉnh Nghệ Tĩnh phụ trách; ngoài ra cuộc khởi nghĩa của các huyện còn có trường hợp nắm bắt thông tin từ Việt Minh Hà Nội để khởi nghĩa giành thắng lợi. Đặc điểm trên mặc dù có xẩy ra những khúc mắc nhỏ, nhưng đã làm cho cuộc Khởi nghĩa Hà Tĩnh tăng thêm tính phong phú, sôi động và thi đua thúc đẩy việc giành chính quyền các địa phương thêm nhanh chóng.
          Trong cuộc khởi nghĩa giành chính quyền ở Hà Tĩnh cho thấy ý thức cách mạng và tính chủ động của quần chúng nhân dân rất cao. Trong khi kẻ địch ráo riết khủng bố và đàn áp khốc liệt thì nhân dân vẫn không hề nao núng quyết tâm giành chính quyền. Hàng loạt cán bộ và nhân dân bị bắt bớ tù đày, giết hại thảm khốc, song những người còn lại vẫn tin theo Đảng, quyết tâm đi theo cách mạng. Phong trào yêu nước được duy trì dưới mọi hình thức, mọi hoàn cảnh. Nhất là khi các chính trị phạm thoát ngục trở về mang theo chương trình hành động của Đảng và kinh nghiệm đấu tranh trong các nhà tù đế quốc. Mặc dù quần chúng nhân dân vừa phải lo chống đỡ nạn đói, phải thường xuyên đối phó với các thủ đoạn thâm độc của kẻ địch, nhưng vẫn luôn hướng về tiếng gọi của tổ chức, của Đảng. Phong trào cách mạng vẫn có thể thổi bùng lên làm lung lay nhanh chóng uy lực của bộ máy cai trị. Chính vì thế mà không đợi đến ngày toàn quốc khởi nghĩa, không đợi đến việc hoàn chỉnh tổ chức, thời cơ đến vẫn thống nhất được với nhau vùng dậy tước chính quyền địch về tay nhân dân. Cuộc khởi nghĩa ở Hà Tĩnh không diễn ra theo một chiều từ trên xuống hoặc dưới lên mà diễn ra nơi có khâu yếu nhất của bộ máy kẻ địch xuất hiện. Việc giành chính quyền được bắt đầu từ huyện lên tỉnh, rồi từ tỉnh xuống huyện. Cuộc khởi nghĩa giành chính quyền trong toàn tỉnh được diễn ra nhanh chóng, chỉ trong 5 ngày từ 16 đến 21-8-1945.
        Trong khi lãnh đạo của Phân khu Nam Hà đang bàn tính kế hoạch giành chính quyền trong toàn tỉnh thì tại Can Lộc một nhóm thanh niên có quan hệ với Việt Minh Hà Nội, sớm thấy được sự chuyển biến mau lẹ của tình hình đã chớp thời cơ tổ chức tấn công, tước vũ khí lính bảo an, bắt giữ tri huyện, đánh chiếm huyện đường giành thắng lợi. Đây chính là khâu đột phá, khích lệ thúc đẩy các địa phương nhanh chóng khởi nghĩa. Sau khởi nghĩa Can Lộc các Phân khu theo chỉ đạo của Việt Minh địa phương liên tục tổ chức biểu dương lực lượng tiến vào chiếm huyện đường từ tay của chính quyền thân Nhật vừa mới dựng lên. Chỉ có Hương Khê là huyện xa Trung tâm nên đã được sự chi viện của Phân khu Nam Hà cũng nhanh chóng giành thắng lợi. Cuối cùng là Cuộc khởi nghĩa ở Hà Tĩnh đã thể hiện rõ sức mạnh to lớn của quần chúng nhân dân khi đã được khơi dậy và tổ chức. Theo kế hoạch của Việt Minh Nam Hà, để hạ uy thế của chính quyền địch và tránh đổ máu, các địa phương tổ chức cho quần chúng nhân dân biểu tình liên tiếp 3 ngày liền trước khi khởi nghĩa. Thế nhưng trong thực tế khi thời cơ đến, hầu hết các địa phương không đợi đến 3 ngày, mà ngay khi quần chúng được phát động vùng lên đấu tranh thì bộ máy chính quyền thống trị nhanh chóng sụp đổ. Nhiều nơi binh lính mang theo vũ khí vào đội ngũ biểu tình tiến vào giành chính quyền về tay nhân dân.
            70 năm đã qua, người dân Hà Tĩnh với tinh thần cách mạng tháng Tám vẫn tiếp tục phát huy và không ngừng tỏa sáng. Với những thành tựu xuất sắc trong công cuộc đổi mới hoặc như những vụ việc nổi cộm trong từng thời gian càng làm nổi bật hơn bài học lớn về kinh nghiệm thành công của Cách mạng tháng Tám là: Ý Đảng với Lòng dân phải luôn luôn gắn quyện và hài hoà thống nhất với nhau./.


                                                                                              8-2015

Thứ Tư, 29 tháng 7, 2015

Công tác Khoa giáo bộ phận quan trọng không thể tách rời trong các cấp uỷ Đảng

     Sau 85 năm hoạt động của Đảng thì tổ chức Khoa giáo là một trong những bộ phận non trẻ nhất trong bộ máy của Đảng. Cho đến khi đất nước dồn sức vào cuộc Tổng công kích, Tổng khởi nghĩa đồng loạt đầu xuân năm 1968 trên khắp chiến trường miền Nam; nghĩa là lúc chúng ta bắt đầu có thể tấn công vào sào huyệt kẻ thù và hé mở khả năng đất nước hoà bình thống nhất chuẩn bị đi vào công cuộc xây dựng mới; thì khi đó Đảng mới quyết định thành lập Ban Khoa giáo Trung ương vào ngày 30-1-1968. Nhiệm vụ rất nặng nề của Ban Khoa giáo từ những ngày đầu tiên là giúp Trung ương theo dõi, tham mưu để lãnh đạo đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học, đào tạo cán bộ, điều tra thăm dò tài nguyên phục vụ kịp thời công cuộc xây dựng lại đất nước sau chiến thắng.
        Những năm đã qua, với sự nổ lực to lớn của toàn Đảng hệ thống khoa giáo các cấp từ Trung ương đến các địa phương được hình thành và đã có những đóng góp quan trọng vào sự lãnh đạo của cấp uỷ các cấp trong việc theo dõi tham mưu cho các cấp uỷ lãnh đạo chỉ đạo các lĩnh vực chủ yếu như khoa học, giáo dục đào tạo,, thể dục thể thao, chăm sóc sức khoẻ nhân dân, dân số gia đình và trẻ em.
     Là những người được công tác và hoạt động trong thời kỳ sôi động nhất của hệ thống khoa giáo của Đảng; thật vui và tự hào được chứng kiến và tham gia vào những chủ trương, chính sách của Đảng có tác dụng tích cực vào đời sống xã hội mà ảnh hưởng của nó vẫn còn in đậm tới ngày nay. Trong đó có những dấu ấn sâu sắc của hệ thống khoa giáo tham mưu về các chủ trương như:  Chăm sóc sức khoẻ nhân dân;  xoá bỏ trường chuyên lớp chọn cấp tiểu học, THCS;  xây dựng xã hội học tập và học tập suốt đời;  xây dựng phong trào thể thao quần chúng;  xây dựng chiến lược dân số; phát triển mạng lưới tin học .v.v....
          Để phát huy vai trò vị trí và trọng trách của nó trong tình hình mới, trước đây trong các Ban tham mưu của Tỉnh, Thành uỷ và Trung ương có Ban khoa giáo riêng, bên cạnh Ban Tuyên huấn. Nay do yêu cầu giảm bớt đầu mối nên Trung ương đã có chủ trương  sáp nhập Tuyên huấn với Khoa giáo thành Ban Tuyên giáo. Bộ phận Khoa giáo ở địa phương chỉ để lại Phòng Khoa giáo trong Ban Tuyên giáo các Tỉnh, Thành uỷ. Ở Hà Tĩnh theo Quy định số 217QĐ/TU, ngày 23-11-2001của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ thì Ban Tuyên giáo là cơ quan tham mưu giúp cấp uỷ hướng dẫn, kiểm tra, chỉ đạo các lĩnh vực Tuyên giáo trong đó có Khoa giáo. Ban có nhiệm vụ giúp cấp uỷ nghiên cứu, theo dõi tổng hợp tình hình tư tưởng, hoạt động của các lĩnh vực khoa giáo; chỉ đạo hướng dẫn, kiểm tra việc tổ chức học tập quán triệt, triển khai thực hiện, sơ kết tổng kết các nghị quyết, chỉ thị, chủ trương của trung ương và cấp uỷ địa phương; tham gia chuẩn bị các nghị quyết, quyết định của cấp uỷ; giúp cấp uỷ thẩm định các đề án, chỉ đạo một số vấn đề cụ thể thuộc lĩnh vực công tác tư tưởng, văn hoá, khoa giáo của tỉnh; tham gia công tác cán bộ, và chính sách cán bộ trong khối thuộc diện Tỉnh uỷ quản lý.
 Với chức năng và nhiệm vụ ấy, trong những năm qua nhất là từ ngày tái lập tỉnh đến nay. Công tác Khoa giáo đã tích cực hoạt động và đã có những đóng góp quan trọng và thành tích chung của tỉnh. Trong đó có những kết quả nổi bật như giúp cấp uỷ chính quyền đẩy mạnh hoạt động lĩnh vực khoa học công nghệ, đưa hoạt động khoa học công nghệ ngày càng gắn bó hơn với thực tiễn và phục vụ có hiệu quả cho việc phát triển kinh tế xã hội của tỉnh. Các hoạt động Giáo dục đào tạo, Khoa học công nghệ, Chăm sóc sức khoẻ, Thể thao... đều đã gặt hái được những kết quả bước đầu. Hà Tĩnh đã sớm hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học, loại trừ được bệnh phong ra khỏi cộng đồng, xoá bỏ được  hiện tượng tử vong do sốt rét, ngăn chặn được dịch bệnh trong nhân dân, đẩy mạnh phong trào thể thao quần chúng và vươn lên thể thao thành tích cao...Để góp phần làm nên những kết quả đó công tác Khoa giáo đã giúp cấp uỷ tổ chức triển khai và sơ kết nhiều chỉ thị của Ban Bí thư Trung ương Khoá VII như chỉ thị số 36 về Đẩy mạnh hoạt động thể thao, chỉ thị số 38 về công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em... các chỉ thị của Bộ chính trị khoá VIII như chỉ thị số 34 Về công tác Đảng trong trường học, chỉ thị số 36 về công tác mội trường, chỉ thị số 51 về đẩy mạnh công nghệ thông tin, chỉ thị số 61 về giáo dục phổ cập THCS...Ngoài ra Ban Tuyên giáo còn tham mưu cho Tỉnh uỷ tổ chức các đoàn kiểm tra thực hiện các nghị quyết, giúp cấp uỷ soạn thảo nhiều nghị quyết quan trọng trên lĩnh vực công tác Khoa giáo địa phương.
       Rất tiếc đến nay bộ phận chuyên trách khoa giáo của cấp uỷ từ Trung ương đến các địa phương chỉ còn lại rất ít cán bộ. Bởi vậy việc thực hiện chức trách nhiệm vụ theo đúng yêu cầu của nó gặp rất nhiều khó khăn. Phần lớn cán bộ khoa giáo chỉ mới tập trung làm công tác theo dõi phản ánh với cấp trên, chứ chưa làm được nhiều chức trách khác. Từ đó trên các lĩnh vực Khoa giáo cũng xuất hiện rất nhiều những vấn đề kiến xã hội quan tâm bức xúc. Có nơi đã phải huy động cả hệ thống chính trị vào cuộc thậm chí phải dùng cả biện pháp cứng rắn để giải quyết các vấn đề từ người dân đặt ra....
 Từ thực tiễn hoạt động công tác Khoa giáo có thể thấy một số vấn đề cần quan tâm như sau:
       1- Bản chất của công tác Khoa giáo là công tác trí thức. Khác với hoạt động bề nổi của tuyên truyền cổ động; công tác Khoa giáo thường chìm lắng và đòi hỏi chiều sâu về trí tuệ. Theo dõi, tham mưu, giúp cấp uỷ thường ngày chỉ đạo giải quyết các vấn đề cơ bản theo định hướng, quan điểm của Đảng, chứ không phải can thiệp giải quyết các vụ việc chuyên môn trong từng lĩnh vực. Có người từng nêu câu hỏi : không có Khoa giáo thì Bác sĩ có chữa bệnh không, thầy giáo có dạy học không ? Thực ra Khoa giáo không can thiệp vào công việc cụ thể trong chuyên môn kỷ thuật mà đòi hỏi bác sĩ chữa bệnh, thầy giáo dạy học theo hướng nào, ai nên khen, ai đáng chê và làm sao để kết quả, chất lượng phục vụ nhân dân được tốt hơn. Bởi vậy không quan tâm đầy đủ đến hoạt động Khoa giáo là chưa quan tâm đầy đủ đến hoạt động trí thức trên lĩnh vực này.
      2- Công tác trong lĩnh vực Khoa giáo, đòi hỏi phải có một đội ngũ cán bộ am hiểu sâu sắc lĩnh vực phụ trách. Trước đây khoa giáo được điều động  những cán bộ ưu tú từ các lĩnh vực khoa giáo. Như vậy cán bộ Khoa giáo vừa am hiểu chuyên môn vừa có kinh nghiệm hoạt động thực tiễn. Điều này giúp cán bộ khoa giáo khi đưa ra những quan điểm, nhận định đánh giá, tham mưu cho cấp uỷ không bị cản trở hoạt động chuyên môn, trái lại làm cho hoạt động chuyên môn càng thêm thuận lợi. Mặt khác chính công tác khoa giáo giúp cho cấp uỷ và các ngành chuyên môn tránh được những chủ trương kế hoạch không sát với thực tiễn, độc quyền không phù hợp với lợi ích chung. Cán bộ công tác Khoa giáo đòi hỏi phải tích cực học tập để bổ sung kiến thức các lĩnh vực phụ trách. Khi còn Ban Khoa giáo Tỉnh uỷ gần như mỗi cán bộ chỉ theo sát một lĩnh vực khoa giáo, nhưng nay một cán bộ phải theo dõi nhiều lĩnh vực. Muốn làm tốt tham mưu, cán bộ vừa phải am hiểu sâu sắc công tác chuyên môn vừa nắm vững quan điểm của Đảng. Có như vậy cán bộ Khoa giáo mới có thể tiếp cận được thực tiễn và đưa ra những ý kiến có sức thuyết phục, có thể vượt trội so với đội ngũ cán bộ chuyên môn đơn thuần.
      3-  Đội ngũ làm công tác Khoa giáo không chỉ cần có trình độ chuyên môn tốt, nắm chắc quan điểm cơ bản của Đảng mà còn rất cần bản lĩnh, dám đương đầu với những biểu hiện lệch lạc và dám nói tiếng nói trung thực của mình vơi các cấp lãnh đạo. Tôi nhớ mãi hình ảnh một Chủ tịch tỉnh không chịu ký Bằng khen cho cán bộ ngành khi chưa có ý kiến của Khoa giáo. Điều này không chỉ nâng vị thế hoạt động Khoa giáo của cấp uỷ mà còn đặt lên vai trách nhiệm và tinh thần làm việc nghiêm túc hơn cho cán bộ trong công tác theo dõi kiểm tra, nắm chắc tình hình và chất lượng công việc của lĩnh vực được giao phó. Hiện nay khi mà nhân loại đang tiến sâu vào nền kinh tế tri thức, con đường hội nhập, toàn cầu hoá với sự tiến nhanh như vũ bão của cuộc cách mạng Khoa học và công nghệ; thì lĩnh vực công tác Khoa giáo càng có vai trò to lớn trong tiến trình phát triển của đất nước nói chung mỗi địa phương nói riêng.  Bởi vậy để công tác Khoa giáo có chất lượng tốt, các cấp uỷ Đảng không chỉ cần quan tâm bố trí cán bộ có chất lượng, tạo điều kiện về phương tiện thiết bị làm việc mà điều quan trọng nhất là phải có cơ chế phát huy cao vai trò trí tuệ bản lĩnh của đội ngũ cán bộ hoạt động trên lĩnh vực đòi hỏi chiều sâu trí tuệ này.
      Kỷ niệm 85 năm ngày truyền thống ngành Tư tưởng văn hoá; thiết nghĩ đây cũng là một dịp để chúng ta ngẫm nghĩ thêm những bài học từ thực tiễn công tác trên lĩnh vực này nói chung, công tác khoa giáo nói riêng. Phải chăng đây cũng là lúc chúng ta nhìn lại chính mình để xây dựng lại hệ thống tổ chức, tu sửa hành trang chuẩn bị tốt hơn cho bước tiến mạnh mẽ vững chắc trên con đường đổi mới./.