Thứ Bảy, 7 tháng 2, 2015

Một số quan điểm cơ bản của Hồ Chí Minh đối với thanh niên

         Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng cộng sản Việt Nam đã khẳng định: Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác Lê Nin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại.  Xuyên suốt trong hệ thống tư tưởng ấy vấn đề đối với thế hệ trẻ bao gồm cả đội ngũ thanh, thiếu niên và nhi đồng luôn được Người xem là lực lượng hậu bị quan trọng quyết định vận mệnh và tương lai của dân tộc. Đặc biệt đội ngũ đoàn viên và thanh niên là “cánh tay phải của Đảng”, lực lượng hậu bị trực tiếp của cách mạng. Đội ngũ hiện có là nguồn lực báo trước cho những bước phát triển của đất nước nói chung, nhân loại nói riêng. Chủ tịch đã rất tin tưởng và gửi gắm niềm tin vào thế hệ trẻ khi nói rằng: “ Một năm khởi đầu từ mùa xuân. Một đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội” (1).
        Trước hết  Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá rất cao vai trò, vị thế của đoàn viên thanh niên, bởi đội ngũ này có rất nhiều thế mạnh. Thanh niên là đội ngũ đang trưởng thành ở độ sung sức nhất của cuộc đời, có thể lực sức khoẻ tốt, nhanh nhạy, sáng tạo trong hoạt động thực tiễn. Thanh niên có thể dám xông pha, đảm nhiệm những công việc nặng nhọc đòi hỏi thử thách khó khăn nhất. Theo suốt chiều dài lịch sử thì thanh niên vừa được tiếp sức bởi những kinh nghiệm tinh tuý trong truyền thống cha ông vừa lại được tiếp nhận những tinh hoa văn hoá và khoa học kỷ thuật tiên tiến hiện đại của nhân loại. Số lượng thanh niên ngày một đông thêm với sự phát triển cả về trí tuệ và thể lực thì họ không những chỉ đảm đương sứ mệnh xã hội hiện tại mà còn có thể kết nối khăng khít giữa thế hệ quá khứ với tương lai. Người nói: “Thanh niên là người tiếp sức cách mạng cho thế hệ thanh niên già, đồng thời là người phụ trách, dìu dắt thế hệ thanh niên tương lai”(2). Hồ Chí Minh luôn khẳng định: “Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà”, “nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh, một phần lớn là do các thanh niên”(3).
       Tuy nhiên để phát huy được vai trò và vị thế của mình theo Hồ Chí Minh đoàn viên và thanh niên không thể chỉ ngồi đợi mà phải nổ lực không ngừng, phấn đấu không mệt mỏi. “Nhiệm vụ của thanh niên không phải là đòi hỏi nước nhà đã cho mình những gì. Mà phải tự hỏi mình đã là gì cho nước nhà ?. Mình phải làm thế nào cho ích lợi nước nhà nhiều hơn ?. Mình đã vì lợi ích nước nhà mà hy sinh phấn đấu chừng nào ? ” (4). Nói một cách đơn giản là đoàn viên thanh niên phải xác định rõ trách nhiệm phấn đấu của mình, có bước đi cụ thể để đạt được mục tiêu lý tưởng, xứng đáng chủ nhân tương lai đất nước. Theo Hồ Chí Minh tuổi trẻ trước hết phải chăm lo học tập để nâng cao trình độ hiểu biết về chính trị, văn hoá, khoa học kỷ thuật, nghiệp vụ để tiến bộ mãi, để sẵn sàng trở thành cán bộ tốt, đảng viên tốt. Có hiểu biết là rất quan trọng nhưng muốn biến được hiểu biết thành kết quả trong hành động, thanh niên cần xây dựng được kế hoạch, có bước đi phù hợp. Hồ Chí Minh khuyên thanh niên: “Chớ đặt những chương trình kế hoạch mêng mông, đọc nghe sướng tai nhưng không làm được. Việc gì cũng cần phải thiết thực: nói được, làm được. Việc gì cũng từ chổ nhỏ dần dần đến to, từ dễ dần dần đến khó, từ thấp dần dần đến cao. Một chương trình nhỏ mà thực hiện được hẳn hoi, hơn là một trăm chương trình to tát mà làm không được”(5). Thấu hiểu sâu sắc tâm lý tuổi trẻ Hồ Chí Minh khuyên thanh niên dầu có thành tích và thành công trong công việc tuyệt đối không được “kiêu ngạo, tự mãn, tự túc, nên nói ít, làm nhiều”. “Các sự hy sinh khó nhọc thì mình làm trước người ta, còn sự sung sướng thanh nhàn thì mình nhường người ta hưởng trước (tiên thiên hạ ưu, hậu thiên hạ lạc)”.  Thanh niên cần xác định cho mình những đam mê trong trách nhiệm: “Ham làm những công việc ích quốc lợi dân. Không ham địa vị và công danh phú quý”. “Các việc đáng làm thì có khó mấy cũng quyết tâm làm cho kỳ được”. (6)
      Nói như vậy không có nghĩa là chỉ cần xác định được trách nhiệm chính trị thanh niên có thể làm được mọi việc theo ý muốn. Trong quan niệm Hồ Chí Minh một nét biện chứng rất cần được quan tâm, đó là trách nhiệm đúng phải được đặt trong một môi trường tốt thuận lợi. Môi trường sẽ là điểm tựa, là yếu tố có tác động mạnh mẽ tới kết quả phấn đấu và trưởng thành của tuổi trẻ nói chung, đoàn viên thanh niên nói riêng. Có ba yếu tố tạo nên một môi trường tốt cho thanh niên đó là tác động của xã hội đang sống, tác động của đội ngũ những người đi trước và sự tự thân vận động trãi nghiệm qua thực tiễn của chính đội ngũ thanh niên. Vì thế để có một môi trường tốt cho thanh niên thì trước hết xã hội cần phải chăm lo giáo dục tốt. Giáo dục toàn diện bao gồm cả thể dục, trí dục, mỹ dục, đức dục. Trong đó đức dục gồm 5 cái yêu: “yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, yêu lao động, yêu khoa học, yêu trọng của công”(7) . Phải giáo dục tốt cho thanh niên để “ Đâu cần thanh niên có, đâu khó có thanh niên”. Tuy nhiên giáo dục nhà trường cũng chỉ là là việc chuẩn bị nền tảng đầu tiên cơ bản cho thanh niên. Có một tác động giáo dục rất lớn thường xuyên diễn ra đó là tấm gương của những lớp người đi trước, của thế hệ đàn anh. “Một tá cương lĩnh không bằng một tý hành động”, vì chính hành động của những cán bộ, đảng viên đi trước sẽ thu hút việc làm theo của thế hệ trẻ. Lớp người đi trước phải là những tấm gương sáng về mọi mặt để làm mục tiêu và niềm tin vững chắc cho các thế hệ thanh niên tự rèn luyện, vượt qua thử thách chính mình mà nối bước và trưởng thành.
           Theo Hồ Chí Minh, để thanh niên có điều kiện phát huy hết tiềm năng thế mạnh của mình thì không thể không nói tới vai trò của tổ chức Đảng.  Đương thời Người thường xuyên nhắc nhở cấp uỷ Đảng các cấp phải “Phải củng cố tổ chức Đoàn, phải đoàn kết nội bộ thật chặt chẽ và phải đoàn kết rộng rãi các tầng lớp thanh niên” (8). Chủ tịch thường xuyên phê phán gay gắt tư tưởng hẹp hòi, thủ cựu đối với thanh niên. Người yêu cầu cần bồi dưỡng, bố trí, đề bạt cán bộ trẻ, vì có như vậy mới xây dựng đội ngũ kế cận lớp người đi trước,  Người từng nói: “trẻ 30 tuổi cũng đã già” . Tổ chức Đảng phải xây dựng kế hoạch để từng bước đưa cán bộ trẻ vào các vị trí quan trọng trong Đảng. Đây là bước đi quan trọng nhất để thanh niên phát huy cao nhất vai trò và thế mạnh của mình trong sự nghiệp cách mạng mới. Trong Di chúc để lại cho muôn đời sau Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “ Đảng cần phải chǎm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa "hồng" vừa "chuyên. Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và cần thiết”.
      Hiện nay toàn Đảng đang đẩy mạnh Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” với chủ đề “về trung thực, trách nhiệm; gắn bó với nhân dân; đoàn kết xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh”. Khắp nơi đang bước vào đợt sinh hoạt chính trị sôi động hướng tới Đại hội Đảng các cấp. Chắc chắn những tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về thanh niên đang mở cho chúng ta những chìa khoá cần thiết để dẫn thanh niên bước vào vận hội mới trên con đường xây dựng đất nước quê hương giàu đẹp./.
                                                                          

Chú thích:
(1) Hồ Chí Minh về  đạo đức cách mạng, Nxb CTQG, HN, 1993, trang 195
(2) Hồ Chí Minh toàn tập, T4, Nxb CTQG, HN, 1995, trang 315
(3) Hồ Chí Minh: Về giáo dục thanh niên, Nxb Thanh niên, HN, 1980, tr.82, 84.
(4) Hồ Chí Minh về  đạo đức cách mạng. Nxb CTQG. HN 1993. trang 200
(5)(6) (7)                 nt                                                            trang 197, 198, 201
(8) Hồ Chí Minh: Về giáo dục thanh niên, Nxb Thanh niên, HN, 1980, trang 165   



Xuân về khắp néo đường quê đổi mới

         Được đi cùng những đoàn chia xẻ kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới của Liên hiệp các hội Khoa học & kỷ thuật, tôi mới có dịp xuống biển lên rừng khắp các miền quê nông thôn Hà Tĩnh để ngắm nhìn những đổi thay nhanh chóng của quê hương sau những năm đổi mới.
        Đã lâu rồi trong tiềm thức mỗi con người yêu mến vùng đất này thì Hà Tĩnh là một vùng đất hẹp luôn hứng chịu sự tàn phá của thiên nhiên khắc nghiệt và sự ác liệt của các cuộc chiến tranh. Biết bao người đã từng xót xa khi nghe tin hạn hán, bão lũ tàn phá vùng đất này cuốn trôi cả làng ra sông ra biển. Người dân nơi đây đã từng phải nai lưng chống trời với cái nắng như thiêu như đốt để mưu cầu cuộc sống dưới tán những chiếc áo tơi... Hay như trong chiến tranh đã có những vùng quê mà mồi mét vuông đất phải hứng chịu 3- 4 quả bom... người dân phải dỡ nhà lát đường cho xe ra tiền tuyến, hàng ngàn người con ưu tú của quê hương phải ra đi không trở lại...Lực lượng sản xuất do đó bị bào mòn, để rồi năm lại năm phải nhờ Trung ương giúp đỡ.
         Vậy mà chỉ sau gần 30 năm đổi mới, đặc biệt là sau 4 năm thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, vùng quê Hà Tĩnh đã có những đổi thay kỳ diệu. Gần như ai cũng thấy rằng muốn đi lên phải chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng nguồn thu nhập để cải thiện sức sản xuất. Nhưng chuyển dịch thế nào, bắt đầu từ đâu là một bài toán không hề đơn giản. Nghị quyết Đại hội Đảng bộ nhiệm kỳ 2005-2010 đã có bước khởi đầu quan trọng: “ kêu gọi toàn thể đảng viên, cán bộ, công nhân, viên chức, cán bộ và chiến sỹ trong các lực lượng vũ trang, các tầng lớp nhân dân tỉnh nhà ... đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, phấn đấu thực hiện thắng lợi mục tiêu đưa Hà Tĩnh từ một tỉnh nông nghiệp sớm trở thành một tỉnh có công nghiệp và dịch vụ phát triển ...” (1)
          Không khí thành công của Đại hội Đảng bộ như một luồng gió mới thúc đẩy sự biến động trong mỗi bộ óc con người, mỗi tầng lớp nhân dân, mỗi lĩnh vực hoạt động đến mỗi vùng quê phố phường thôn xóm. Trên tầm vĩ mô nhiều chủ trương lớn đã được triễn khai như trải thảm đỏ thu hút nhân tài, đẩy mạnh truyền thông, mở liên tục các cuộc xúc tiến kêu gọi đầu tư trên tinh thần cở mở, hợp tác và cùng có lợi. Khâu đột phá được chọn là xây dựng các khu kinh tế công nghiệp trọng điểm như Vũng Áng, Cửa khẩu quốc tế Cầu Treo, thuỷ lợi Ngàn Trươi - Cẩm Trang, mỏ sắt.... Một chiến dịch lớn với sự tham gia của cả hệ thống chính trị được triễn khai để xây dựng các khu tái định cư, giải phóng mặt bằng nhường chổ cho hàng trăm doanh nghiệp trong và ngoài nước đầu tư xây dựng trên hàng ngàn héc ta đất. Các khu kinh tế này được xem như con chim đầu đàn về kinh tế của tỉnh dẫn đường cất cánh cho toàn bộ sự phát triển của tỉnh. Cùng với việc đẩy mạnh vùng kinh tế trọng điểm, tỉnh dồn sức chỉ đạo tập trung phát huy cao nhất sức mạnh nội lực xây dựng nông thôn mới. Có lẽ vì vậy mà giờ đây những quả ngọt đầu tiên đã ra hoa kết trái.
          Đi trên những con đường thôn bằng phẳng thêng thang ta cảm nhận ra nhiều hương vị mới. Đường thôn được mở rộng ra cho xe ô tô như nhỏ lại. Tết đến xuân về mà chẳng còn phải vội đi sắm thêm đôi ủng để đạp bùn sang thăm nhà hàng xóm. Nếu xưa kia nói đến Hà Tĩnh là nói đến kẹo Cu đơ, cá mát thì giờ đây phong phú hơn nhiều. Bạn bè gần xa đã từng được thưởng thức thú vị với đặc sản bưởi Phúc Trạch, Nhung hươu, mực nhảy, rượu trắng Hương bộc, Tuyết Mai, cam Khe Mây, cá chim trắng, ba ba, chim trĩ...và mới hơn nữa là nhiều sản phẩm thú vị từ rau sạch trồng trên cát.  Hương thơm vị ngọt đầu tiên đang làm gương mặt mọi người thêm rạng rỡ. Nếu năm 2005 toàn tỉnh thu ngân sách đạt 445 tỷ đồng thì nay đạt tới 11. 500 tỷ đồng,(2) bình quân đầu người từ 4,58 triệu đồng nay ước đạt 34 triệu đồng.  Những nguồn lực ấy đang thúc đẩy, nhân lên sức mạnh nội lực làm biến đổi quê hương từ thành thị đến các vùng quê xa xôi hẻo lánh. Phong trào xây dựng Nông thôn mới đang diễn ra sôi động, toàn tỉnh đã huy động được hơn 28. 000 tỷ đồng trong đó dân đóng góp chiếm hơn 11%. Đã có 5.649 mô hình sản xuất lớn nhỏ ra đời với nhiều nếp nghĩ cách làm hay, sảng tạo làm thay đổi tư duy nếp nghĩ của mỗi người dân. Ở xã Xuân Viên (Nghi Xuân) đã có những nông dân dám mua một con lợn giống (lợn bò) giá 14 triệu đồng. Thật là mát mắt và thú vị khi có một thôn xóm trồng tới 16 cây số hành rào mạn hảo bao quanh các tuyến đường xanh sạch đẹp, lại có những vùng quê văn hoá như ở Hương Trà (Hương Khê) dám nêu khẩu hiệu: Ai vứt rác bừa bãi ra đường người đó không phải là dân của xã...v.v.
     Dọc theo chuyến hành trình, đâu đâu cũng vậy, sau những cái bắt tay nồng ấm là sự hồ hởi giải bày về các hạng mục đạt tiêu chí quốc gia. Ban chỉ đao xây dựng nông thôn mới của tỉnh(3) cho hay toàn tỉnh đã có 95,7% số xã đạt tiêu chí bưu điện;   79,9% đạt tiêu chí điện chiếu sáng; 5,6% đạt tiêu chí quy hoạch chợ đạt chuẩn; 37,2% đạt tiêu chí trường học; 31,6% đạt tiêu chí thuỷ lợi; 29,5% đạt tiêu chí nhà ở dân cư; 15,4% đạt tiêu chí giao thông; 12,4% đạt tiêu chí cơ sở vật chất văn hoá...  Đến nay Hà Tĩnh đã có 11,11% số xã về đích Nông thôn mới. Hơn 62 % số xã đã đạt từ 7 đến 12 tiêu chí đây là dấu hiệu khả quan cho việc hoàn thành chỉ tiêu 20% số xã đạt nông thôn mới vào cuối nhiệm kỳ.
       Tết là vui, là xuân; có xuân là có tết; bên chén rượu nồng hương thơm lan toả từ các làng biển đến rừng và trong những vùng tái định cư mới lạ; ai đó còn phân vân, nếu không vì đạt chuẩn mà sang nợ cho con cháu mai sau, thì xin hãy cùng “dô” để đón nhận hương sắc mùa xuân đang lan toả trên khắp mọi nẻo đường quê đổi mới./.


(1)  Nghi quyết Đại hội XVI. Văn kiện Đại hội đảng bộ Khoá XVI trang 131
(2)  Báo cáo tại kỳ họp thứ 11 HĐND tỉnh khoá XVI tháng 12 năm 2014
(3)  Báo cáo của Ban Chỉ đạo xây dựng Nông thôn mới tháng 12 năm 2014, tổng hợp biểu 6


Thứ Bảy, 24 tháng 1, 2015

Những điều cần biết về máy sục khí ozone

     Hiện nay một số nơi đang tổ chức truyền thông tiếp thị về việc cung cấp máy sục khí theo công nghệ máy ozone. Theo đó người chấp nhận dịch vụ được xem như một cứu cánh để giải quyết tình trạng ô nhiễm độc hại trong thực phẩm hàng ngày. Bởi vậy chúng ta cần biết một số vấn đề khi tiếp nhận tiếp thị như sau:
      Theo truyền thông tiếp thị thì máy sục khí ozone (máy ozone) là một công cụ đa năng có nhiều ưu thế tuyệt vời như: nó sẽ tạo ra được khí ozone có tác dụng phân hủy nhanh và triệt để dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, thuốc trừ sâu, các vi khuẩn, nấm mốc có trên rau, củ, quả và  dư lượng thức ăn chăn nuôi công nghiệp chưa được chuyển hóa hết trong thực phẩm tươi sống như thịt, cá, tôm…làm sạch nguồn nước uống, tắm rửa …có thể giúp ích trong việc khử mùi hôi thối, chăm sóc sức khỏe…máy gọn nhẹ, dễ sử dụng, tiết kiệm điện.v.v...
     Thế nhưng theo các chuyên gia về máy ozone thì hiện nay trên thế giới có rất nhiều nước sản xuất máy ozone với các kiểu dáng kích thước, chất lượng, giá cả khác nhau như Trung Quốc, Việt Nam, Nhật Bản, Hàn quốc, Đức, pháp….với giá từ 150 ngàn đồng đến 10 triệu đồng/ chiếc. Theo Tuấn Kiệt viết trên một tờ báo của Tổng cục tiêu chuẩn đo lường chất lượng -Bộ Khoa học & Công nghệ Việt Nam thì thời điểm tháng 5 năm 2014 máy Việt nam sản xuất giá từ 500 - 800 ngàn đồng/chiếc.
      Máy sục khí ozone là một ứng dụng công nghệ tiên tiến, sử dụng phản ứng tia lửa điện nhằm tạo ra khí ozone để phục vụ cho cuộc sống con người. Theo các nhà khoa học thì việc sử dụng khí ozone đúng quy cách, đủ lượng cần thiết có thể làm phân hủy được một số chất độc hại khi chúng ta sục vào nước để xử lý thực phẩm nhiểm độc; mà chủ yếu là lớp bám bề ngoài thực phẩm. Như thế không có nghĩa là sau khi được sục khí ozone thực phẩm đã được vô hại hoàn toàn. Bởi máy sẽ không thể xử lý hết được loại độc hại đã thẩm thấu vào bề trong của thực phẩm.
       Việc xử lý độc hại còn tùy thuộc vào các loại chất độc khác nhau, mức độ thẩm thấu của độc tố vào thực phẩm….Trong quá trình xử lý, khí ozone làm phân hủy một số độc tố gây hại, nhưng cũng không tránh khỏi việc phân hoá tạo nên những chất độc hại hơn tùy thuộc vào những loại chất độc đã được đưa vào trong thực phẩm trước đó. Để tạo được một lượng khí ozone đủ mạnh máy đồng thời làm sản sinh ra một số chất khí có hại cho sức khỏe. Đáng lưu ý là trong quá trình sử dụng, máy ozone phóng điện tạo ra oxit nitơ rất có hại cho đường hô hấp. Vì thế khi dùng khí ozone để tẩy uế môi trường, khử  mùi tủ lạnh phải hết sức chú ý đến vấn đề này. Nếu thường xuyên hít phải khí này sẽ mắc bệnh mãn tính về tai, mũi, họng: viêm mũi, hen phế quản mãn tính, viêm kết giác mạc, viêm phổi mãn tính. Để đảm bảo an toàn máy phải được cấu tạo thêm các thiết bị bảo đảm an toàn khác (máy làm khô không khí- thiết bị khử ẩm); như vậy máy phải cồng kềnh và giá thành đắt lên rất nhiều không hấp dẫn người tiêu dùng. Đối với máy gọn nhẹ chưa có chức năng này.
  Bên cạnh những lợi ích có được thì sử dụng máy ozone còn có những tác động ngược, bởi thế nhiều người đã không phát huy được tác dụng tích cực hoặc đã phải chuyển hóa vị trí, chức năng của máy khác với công năng của truyền thông dịch vụ. Người tiêu dùng trước khi mua máy nên tìm hiểu kỹ càng những thông tin mới trên các phương tiện thông tin, báo chí; tranh thủ ý kiến bộ phận khoa giáo và các tổ chức khoa học kỷ thuật địa phương để tư vấn thêm và cần cân nhắc trước khi mua máy, đừng để mua xong trả lại ngay phải mất 300 ngàn đồng/máy,  phí tuyền thông dịch vụ quá đắt và không hợp lý như có người đã hứng chịu./.


                                                                                                                      Tháng 11-2014

Để Hội thi chọn đúng Bí thư chi bộ giỏi

Hội thi Bí thư chi bộ giỏi là một sinh hoạt chính trị cần thiết trong hoạt động của Đảng nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng từ cơ sở.
Chủ tịch Hồ chí Minh đã từng nói: “Chi bộ là nền móng của Đảng, chi bộ tốt thì mọi việc sẽ tốt.” (1). Bởi vậy vai trò của người đứng đầu chi bộ càng trở nên quan trọng; vì muốn có nhiều chi bộ tốt cần thiết phải có nhiều Bí thư chi bộ giỏi. Hội thi Bí thư chi bộ giỏi “nhằm bồi dưỡng nâng cao kiến thức, kỷ năng, nghiệp vụ; khả năng xử lý tình huống trong thực tế cho đội ngũ bí thư, phó bí thư chi bộ, chi uỷ viên cơ sở” (2); là một dịp tốt để mọi đảng viên nói chung mà trước hết là các đồng chí Bí thư chi bộ nâng cao nhận thức và sự hiểu biết về công tác Đảng, giao lưu trao đổi kinh nghiệm hoạt động lãnh đạo một cách thiết thực có hiệu quả giữa các tổ chức Đảng ở cơ sở với nhau. Yêu cầu Hội thi được đặt ra là “phải được chuẩn bị chu đáo, chặt chẽ, nghiêm túc; tạo phong trào học tập, thi đua trong Đảng; hiệu quả thiết thực, tránh phô trương, hình thức, lảng phí”(3). Thế nên khi đã nói tới Hội thi thì yêu cầu đạt được cần xem xét cả phần thi và phần hội. Nếu chỉ quan tâm thi mà không quan tâm hội hoặc ngược lại thì việc tổ chức thi chỉ đạt một nửa.
 Từ một số Hội thi vừa qua cho thấy Hội thi nhiều nơi đã rất chú ý quan tâm cả về mặt nội dung và hình thức. Các Ban tổ chức Hội thi đã quan tâm chỉ đạo đưa ra được nhiều vấn đề buộc người dự thi phải dành thời gian thoả đảng cho việc nghiên cứu, tìm hiểu thậm chí phải nghiền ngẫm để nắm chắc những tư tưởng cốt lõi trong Điều lệ, Nghị quyết, chỉ thị,  quy định, hướng dẫn của Đảng. Đặc biệt qua nhiều Hội thi thí sinh phải xử lý các tình huống thực tiễn khó, những vấn đề đặt ra trong cuộc sống hiện tại, đã không chỉ giúp cho các bí thư chi bộ mà còn cho tất cả đảng viên cần nâng cao hơn nữa sự hiểu biết, trách nhiệm và vai trò của mình trong mọi lĩnh vực công tác. Một số Hội thi đã quan tâm đến việc tuyên truyền cổ động, huy động cán bộ đảng viên tham dự, bố trí địa điểm, hội trường nghiêm trang, tổ chức văn nghệ chào mừng, truyền thanh trực tiếp để tất cả mọi người có điều kiện theo dõi...làm cho Hội thi có tác động tích cực trở thanh một đợt sinh hoạt chính trị trong các cơ sở Đảng. Tuy vậy cạnh những kết quả đạt được vẫn còn “một số cấp uỷ chưa quan tâm chỉ đạo đúng mức; còn chậm tiến độ, chất lượng chưa cao, cá biệt một số nơi còn làm lướt, hình thức, chiếu lệ...”(4). Để Hội thi đạt kết quả tốt hơn, có rất nhiều điều cần được quan tâm suy nghĩ, điều chỉnh cả trên phương diện tổ chức, thực hiện phần thi lẫn phần hội.
Về phần hội: Để cuộc thi mang rõ nét tính chất hội, thì việc cổ động, tuyên truyền, văn nghệ chưa đủ. Điều quan trọng là cuộc thi có được đông đảo cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân quan tâm, tham gia cổ vũ hay không ?; cuộc thi có thực sự là ngày hội hay không. Một cuộc thi mà chỉ có một ít đảng viên, nhân dân quan tâm theo dõi; một Bí thư chi bộ đi tham gia thi mà chỉ có ít thành viên chi bộ tham dự; hay đầu buổi còn đông cuối buổi còn lại mấy người với Ban giám khảo thì chưa thể gọi là Hội thi. Nên chăng các Ban tổ chức cần có sự chỉ đạo thêm để lôi cuốn nhiều hơn lượng người quan tâm cuộc thi. Chẳng hạn bố trí lại cuộc thi có phần do người dự thi thực hiện; có phần nội dung mở rộng cho cả đơn vị chi bộ tham gia tư vấn, để thu hút trí tuệ của cả đơn vị. Chẳng hạn câu hỏi tình huống cần phát động mọi người đưa ra cho Ban tổ chức lựa chọn. Ban tổ chức có thể dành thêm một vài giải thưởng cho người có câu hỏi tình huống hay, đơn vị có nhiều câu hỏi được sử dụng....Sau khi thí sinh bắt thăm trúng câu hỏi tình huống khó, có thể trao đổi lấy phương án trả lời tối ưu của cả đơn vị sau đó mới tham gia dự thi..v.v...để tránh trường hợp như có thí sinh đã trả lời: “ Câu hỏi này khó qúa tôi không trả lời được; cảm ơn Ban khám khảo, tôi xin kết thúc phần thi của tôi”(5). Như thế chắc chắn cuộc thi sẽ sôi động hơn nhiều.
          Về phần thi: Thi bí thư chi bộ giỏi là thi chọn Bí thư chi bộ có năng lực lãnh đạo giỏi. Bởi thế nội dung phần thi không thể dừng lại ở năng lực nhận thức. Một Bí thư chi bộ giỏi ngoài việc nắm chắc các nghị quyết, chỉ thị, quy định, hướng dẫn của cấp trên và đơn vị còn phải tổ chức thực hiện giỏi, có năng lực lãnh đạo, xử lý tốt các tình hống thực tiễn đặt ra, được cán bộ đảng viên nhân dân quý mến tin tưởng nghe theo. Một số cuộc thi  ở các địa phương vừa qua thấy rằng: nội dung thi còn nặng về thi Bí thư nhận thức giỏi hơn là thi chọn thí sinh làm Bí thư giỏi. Vì cả câu hỏi nhận thức lẫn câu hỏi tình huống đều có đáp án theo văn bản quy định, hướng dẫn... số, ngày, tháng, năm. Một số Ban tổ chức ban hành hệ thống câu hỏi và biểu đáp án quá nhiều, quá chi tiết. Có nơi hơn 80 câu, có nơi hơn 60 câu hỏi (cả phần nhận thức và tình huống) mà đáp án đều căn cứ văn bản số, ngày tháng năm. Điều này chưa thật phù hợp với thực tế đội ngũ Bí thư chi bộ có độ tuổi cao, đã xấp xỉ “cố lai hy”. Nên chăng Đáp án cần chú trọng hơn việc nắm chắc vấn đề cơ bản, không nên đi theo hướng học thuộc. Câu trả lời chỉ cần theo quy định hướng dẫn Ban Tổ chức, Uỷ Ban Kiểm tra Trung ương... hiện hành là đủ.
 Việc bố trí Ban Giám khảo cũng có điều cần quan tâm. Đã đành việc đánh giá lựa chọn người giỏi lãnh đạo, cấp uỷ phải chịu trách nhiệm cuối cùng. Song điều đó không đồng nghĩa với việc lãnh đạo cấp uỷ phải vào Ban giám khảo cả. Thật không hợp lý khi một ban giám khảo chọn Bí thư chi bộ giỏi, mà toàn Ban giám khảo chưa có người nào đã từng  làm Bí thư chi bộ; trong khi thí sinh có đồng chí làm Bí thư chi bộ gần 15 năm. Số lượng Ban giám khảo cũng không nên ít quá, vì như vậy sẽ không huy động được sự khách quan trí tuệ chung. Cách chấm điểm cũng nên làm thẻ giơ điểm công khai để người dự thi, cổ vũ tiện theo dõi giám sát tính khách quan, năng lực, sự công tâm của từng vị giám khảo.
Việc chọn tìm Bí thư chi bộ giỏi cũng cần suy nghĩ. Một Bí thư giỏi dĩ nhiên cũng không có nghĩa là Chi bộ đó phải xuất sắc, thế nhưng Bí thư chi bộ giỏi mà chi bộ không bình thường thì cũng không nên. Bởi vậy thi Bí thư giỏi cần gắn với thực tiễn hiện tại, gắn với năng lực xử lý tình huống tốt: những vấn đề nỏng bỏng đảng viên, nhân dân quan tâm. Càng xử lý được tình huống khó trong lãnh đạo, người Bí thư càng giỏi. Câu hỏi tình huống nên có thêm câu hỏi mở, để người thi thể hiện hết tài năng và kinh nghiệm từng trải của mình chứ không khuôn lại câu chử trong đáp án. Có như vậy người chấm thi mới cần đi qua thực tiễn. Để cuộc thi có ảnh hưởng và gây ấn tượng tốt, Ban giám khảo cũng không nên lựa chọn một Bí thư chi bộ giỏi mà người dự thi không được sự quan tâm của tập thể chi bộ. Dù có hàng trăm lý do, thì một bí thư đi thi mà không được đông đảo đảng viên tháp tùng cổ vũ thì chắc chắn uy tín lãnh đạo của Bí thư chi bộ đó còn thấp.
Một vấn đề nữa là hiện nay hầu hết các địa phương đều có những đảng viên cao tuổi Đảng, nhiều nơi có đảng viên kinh qua công tác xây dựng Đảng lâu năm, có kinh  nghiệm. Các Ban tổ chức Hội thi nên tranh thủ thêm trí tuệ của họ ở những phần việc, những khâu có thể được. Điều này chắc chắn sẽ làm cho Hội thi có thêm sự thu hút, tạo đồng thuận để có kết quả thuyết phục hơn. Như thế Hội thi sẽ hướng tới tôn vinh người lãnh đạo giỏi của Đảng và chắc chắn sẽ đi qua những việc thi cử của người học đơn thuần. Hơn thế, Hội thi cũng là một dịp tốt để chúng ta có thêm thuận lợi chuẩn bị nhân sự cho mùa Đại hội các cấp đang đến gần./.

(1) Hồ Chí Minh toàn tập, NXBCTQG, H.2002, tập 12, tr.210
(2) (3) Kế hoạch Tổ chức hội thi của Tỉnh uỷ ngày 25-4-2014
(4) Công văn số 1291 của ban Thường vụ Tỉnh uỷ ngày 05-8-2014

(5)  Một bí thư chi bộ Phường Tân Giang

Thứ Năm, 9 tháng 10, 2014

Bác di chúc Vấn đề đoàn kết

       Bốn mươi lăm năm đã trôi qua, đất nước ta, dân tộc ta, non sông đất nước ta  vắng bóng Chủ tịch Hồ Chí Minh - vị lãnh tụ kính yêu suốt một đời vì dân vì Đảng. Người là vị Lãnh tụ vĩ đại, là anh hùng giải phóng  dân tộc.  Nét riêng mong muốn ở Người là suốt cuộc đời “chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành...”, còn phần mình thì “không dính gì đến vòng danh lợi”.  Người là hiện thân của mọi người vừa là cha, là bác, là anh của người Việt;  là biểu tượng, là trung tâm có sức thu hút, hội tụ được sự đoàn kết toàn dân tộc. Ra đi về cõi vĩnh hằng người không chỉ “để lại muôn vàn tình thân yêu cho toàn dân, toàn Đảng, cho toàn thể bộ đội, cho các cháu thanh niên và nhi đồng” cùng bạn bè khắp năm châu, mà còn để lại những di huấn bất hủ cho toàn Đảng toàn dân nhằm chăm lo vun trồng sự nghiệp cách mạng. Trong kho tàng vô giá ấy ta nhận thấy có vấn đề mà Người đã xây dựng thành công đó là vấn đề đoàn kết. Hơn ai hết lúc còn sống Người hiểu rõ giá trị, sức mạnh của sự đoàn kết là cội nguồn của mọi thành công, nên theo Người:
                          “Đoàn kết, đoàn kết, Đại đoàn kết
                      Thành công, thành công, đại thành công”
Có thể nói suốt quảng đời làm lãnh tụ, Chủ tịch Hồ chí Minh luôn quan tâm xây dựng khối đoàn kết toàn dân tộc, coi đó như một nguyên tắc sống còn của cách mạng. Bất cứ ở đâu, trong hoàn cảnh nào Người luôn có được sự đồng cảm, chở che, ủng hộ. Không chỉ là người dân trong nước, hay ở nước ngoài; bất kể trong cương vị lãnh tụ hay chính khách; Người luôn được sống trong sự yêu thương kính trọng của đông đảo người dân chân chính. Không chỉ mọi người dân Việt nam mà còn rất nhiều người dân các nước trên thế giới yêu quý người Việt vẫn rất thích được gọi hai chữ Bác Hồ.
Thế nhưng trong Di chúc, vấn đề  được Người quan tâm đầu tiên  sau khi qua đời lại là vấn đề đoàn kết trong Đảng.
        Trong sự lãnh đạo của Đảng, điều tối kỵ nhất là tiếng nói không nhất quán; Bác cho đó là hiện tượng “Trống đánh xuôi kèn thổi ngược”. Một chủ trương lúc đưa ra, hay lúc triễn khai thực hiện vội vàng, không được bàn bạc thấu đáo, tính khả thi không cao; hoặc như do kèn cựa địa vị, địa phương cục bộ.... thì khi đó hiệu quả của sự lãnh đạo sẽ rất thấp.  Trong di chúc của Bác, Đoàn kết chặt chẽ trong Đảng là yếu tố đầu tiên đảm bảo cho sự lãnh đạo của Đảng thành công, Người căn dặn:  từ này có Đảng đến nay nhờ có sự đoàn kết chặt chẽ ....cho nên “Đảng đã lãnh đạo nhân dân tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác”.
       Chính vì đoàn kết là chổ dựa, nguồn sức mạnh, là cội nguồn thắng lợi nên Đảng ta rất quan tâm xây dựng và gìn giữ. Đoàn kết trở thành truyền thống quý báu của Đảng và nhân dân ta. Tuy nhiên chưa phải ai ai cũng đã thấu hiểu nó, biết quý trọng nó một cách đúng mức; vì thế Bác căn dặn các đồng chí của mình từ Trung ương đến các chi bộ “cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”.
      Từ thực tế lịch sử cho thấy vì nhiều yếu tố tác động  khác nhau nên thấu hiểu và việc xây dựng khối đoàn kết trong Đảng không phải là điều đơn giản và đều được mọi người nhận thức, thực hành đầy đủ. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn rằng cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng là phải  thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình một cách vừa có lý có tình.
       Trong Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh vấn đề đoàn kết trong Đảng được Người đưa ra thành vấn đề đầu tiên trong vấn đề trước hết để dặn lại đời sau. Có lẽ rất ít người đã đặt câu hỏi tại sao vậy ?
58 năm kể từ ngày ra đi tìm đường cứu nước cho đến phút cuối đời, từ việc phải lặn lội khắp năm châu bốn biển, người càng am hiểu tường tận muốn làm cách mạng thì càng phải chăm lo xây dựng khối đoàn kết. Bởi thế sau khi sáng lập ra Đảng cộng sản Việt nam thì Người đã chú ý ngay đến việc xây dựng và giữ gìn sự đoàn kết trong Đảng. Người coi đây là yếu tố tiên quyết để đảm bảo thành công cho sự lãnh đạo của Đảng.  Ngay từ những văn kiện vắn tắt đầu tiên như chính cương vắn tắt của đảng, sách lược vắn tắt của Đảng do Nguyễn Ái Quốc khởi thảo đưa ra trong Đại hội thành lập Đảng đã thể hiện bao quát tính ưu việt ấy. Trong quá trình cùng Đảng chèo lái con thuyền cách mạng đi đến thành công đã có biết bao lần Người giải quyết thành công vấn đề đoàn kết, để rồi đưa đất nước vượt qua giông bão. Đó là thời kỳ sau khi giành được chính quyền, vận mệnh đất nước đứng trước nguy cơ ngàn cân treo sợi tóc, rồi đến những lúc Đảng gặp sai lầm trong tiến hành cải cách ruộng đất; cách mạng gặp thử thách trước sức tàn phá của chiến tranh cục bộ, chiến tranh phá hoại...
Tất cả đều cho thấy đoàn kết sẽ gặp khó khăn trước những bước ngoặt lịch sử. Vấn đề đoàn kết  trong Đảng sẽ xuất hiện như một hiệu ứng của vấn đề tư tưởng con người. Vì vậy nếu không dự báo trước, không tính trước thì cách mạng sẽ gặp khó khăn và hậu quả khó lường. Bởi thế Bác đã dự tính trước: Cuộc kháng chiến chống Mỹ chắc chắn sẽ chiến thắng, nhưng khi kết thúc chiến tranh thì bước ngoặt cách mạng mới sẽ mở ra và do đó theo quy luật thì vấn đề đoàn kết lại sẽ bị thử thách.
Sau chiến tranh đất nước sẽ chuyển mình sang nhiệm vụ mới. Tất cả mọi tư duy, cơ chế điều hành thực hiện theo mệnh lệnh chỉ huy bao cấp trong chiến tranh sẽ buộc phải huỷ bỏ thay vào đó là việc vận hành theo chế độ kinh tế mới, tính toán, xây dựng, dân chủ....
Trong chiến tranh chúng ta “thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. Mọi người lấy mục tiêu được chiến đấu cống hiến, hy sinh làm cao quý, tự hào. Sau chiến tranh mục tiêu ấy đã hoàn thành. Con người bắt đầu với tư duy mới tính toán lợi ích và thành quả hưởng thụ.
Sau chiến tranh mối quan hệ con người có điều kiện mở rộng hơn; đặc biệt là trong xu thế hội nhập và toàn cầu hoá. Cán bộ đảng viên không chỉ được tiếp xúc, chứng kiến  những thành tựu tiến bộ của nhân loại mà còn phải đối mặt với những cám dỗ lợi ích, thiệt hơn và không loại trừ cả những thủ đoạn tha hoá mua chuộc của thế lực đồng tiền... Chức tước, địa vị, đồng tiền đang là những chất xúc tác dẫn tới tệ nạn đặc quyền đặc lợi, tham nhũng....làm thay đổi màu sắc của sự đoàn kết trong cộng đồng nói chung, trong Đảng nói riêng. Nếu không giải quyết tốt các mối quan hệ ấy thì sức mạnh của khối đoàn kết có thể bị bào mòn và vai trò lãnh đạo của Đảng sẽ bị phai nhạt.  Vì vậy để giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng nhất thiết phải gắn liền với việc chăm lo giữ vững khối đoàn kết mà đầu tiên là sự đoàn kết trong Đảng.
         Chắc chắn rằng, tất cả những bài học thực tiễn cuộc đời sẽ đọng lại ở những suy tư, trăn trở sâu sắc, được Chủ tịch Hồ Chí Minh chắt lọc kết tinh thành những gì tinh tuý nhất để di chúc lại cho con cháu thế hệ mai sau trong đó vấn đề quan trọng hàng đầu là đoàn kết trong Đảng. Phải chăng sau 45 năm thực hiện Di chúc của Bác, mỗi một cán bộ, đảng viên hãy góp phần điều chỉnh chính mình để cho sự đoàn kết trong Đảng ngày một thêm hoàn thiện, kính dâng linh hồn Người yên giấc ngàn thu./.


                                                                                            10-2014

Thứ Năm, 2 tháng 10, 2014

Nâng cao chất lượng sinh hoạt theo QĐ 76

     Ngày 15-6-2000 Bộ Chính trị đã ban hành Quy định số 76 “ về việc đảng viên đang công tác ở các cơ quan, doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp thường xuyên giữ mối liên hệ với Chi uỷ, Đảng uỷ cơ sở và gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân nơi cư trú”.  Theo đó Bộ Chính trị xác định rõ trách nhiệm của đảng viên đang công tác phải có quan hệ mật thiết với nơi cư trú, gần gũi nhân dân, góp phần củng cố mối quan hệ mật thiết giữa Đảng và nhân dân; khắc phục những biểu hiện sống xa dân, thiếu trách nhiệm trong các công việc của dân nơi cư trú. Quy định cũng xác định trách nhiệm phối hợp giữa các tổ chức đảng nơi đảng viên đang công tác và nơi cư trú trong việc quản lý, kiểm tra đảng viên thực hiện nhiệm vụ đảng viên và nghĩa vụ công dân ở nơi cư trú.
Bộ Chính trị cũng  xác định rõ nhiệm vụ của đảng viên, của các cấp uỷ đảng nơi đảng viên đang công tác và nơi cư trú trong việc thực hiện quy định này. Có thể nói đây là một chủ trương rất đúng để tăng cường quản lý đảng viên của Đảng trong thời kỳ mới; đặc biệt là dưới tác động nhiều chiều của cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế. Thực hiện tốt quy định 76 là khâu quan trọng để Đảng ta có thêm điều kiện thuân lợi trong việc giải quyết có hiệu quả những vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay. Bởi vậy sau khi Bộ Chính tri ban hành Quy định đã tạo được sự đồng tình cao, nên hầu hết các cấp uỷ Đảng từ Trung ương đến địa phương đã triển khai nhanh chóng và bước đầu mang lại kết quả. Ở Đảng bộ tỉnh Hà Tĩnh, đến nay 100% tổ chức đảng đã tiến hành giới thiệu đảng viên về sinh hoạt nơi cư trú và tiếp nhận đánh giá nhận xét của cấp uỷ nơi cư trú gắn với việc sinh hoạt phân loại chất lượng đảng viên cuối năm. Thông qua việc quản lý đảng viên sinh hoạt nơi cư trú nhiều đảng viên đã quan tâm hơn hoạt động, sinh hoạt của bản thân và gia đình nơi cư trú; chú ý phấn đấu, giữ gìn phẩm chất đạo đức, phong cách, lối sống lành mạnh và có mối quan hệ gần gủi mật thiết hơn với cộng đồng khối phố, thôn xóm. Do làm tốt việc quản lý đảng viên, nhiều cơ quan, đơn vị đã phối hợp có hiệu quả với cơ quan tổ chức của Đảng làm tốt hơn trong việc xây dựng quy hoạch, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ, tránh được những sai sót không đáng có...
       Tuy vậy, phần lớn các tổ đảng sinh hoạt theo Quy định 76, cán bộ, đảng viên nơi cư trú vẫn còn nhiều băn khoăn về chất lượng, hiệu quả thiết thực, tính hấp dẫn trong việc tổ chức hoạt động theo quy định này. Bởi một số nơi việc sinh hoạt đảng nơi cư trú còn mang tính hình thức, theo kiểu thủ tục “Xuân Thu nhị kỳ”, mỗi năm hai lần, mỗi lần một vài giờ; chủ yếu gặp nhau, thu hội phí vui vẻ; còn nghe gì và nói gì với nơi cư trú chưa được quan tâm đúng mức. Nhiều người còn lo về sự có mặt ghi tên để cuối năm có giấy xác nhận tốt của cấp uỷ cư trú mang về cơ quan, hơn là việc quan tâm đến những vấn đề người dân địa phương cư trú đang cần đến mình. Để nâng cao hơn nữa chất lượng hoạt động của các tổ đảng 76 có lẽ còn rất nhiều điều cần làm.
       Ở tầm vĩ mô, các Ban tham mưu của Đảng cũng cần có những cuộc khảo sát đánh giá lại kết quả sau gần 15 năm Bộ Chính trị ban hành quy định, xem những gì là tốt những gì chưa được để có những hướng dẫn bổ sung kíp thời giúp các cấp uỷ có những điều chỉnh cần thiết trong chỉ đạo thực hiện.  Ví như có nên mở rộng thêm đảng viên đương nhiệm giữ mối liên hệ với khối phố, thôn xóm, các đoàn thể quần chúng gần gủi với công việc mà đảng viên đương nhiệm phụ trách... hay chỉ quan hệ với cấp uỷ địa phương ?. Bởi nếu chỉ giữ mối quan hệ với cấp uỷ thì vẫn còn chổ hở, chưa thể thắt chặt và gắn kết được với với cộng đồng dân cư. Tuy nhiên mọi tổng kết đều phải bắt nguồn từ điều kiện cho phép và thực tiễn phong phú, đa dạng. Thực tế ở các địa phương đã có những kinh nghiệm quý bước đầu.
    Về thủ tục giới thiệu: đã là quy định của Bộ Chính trị thì mọi đảng viên cần được giới thiệu kịp thời. Cán bộ cấp cao lại càng phải sớm giới thiệu để tăng kịp thời chất lượng cho các tổ đảng nơi cư trú. Các cấp uỷ của đảng viên đương nhiệm không nên cho rằng vì bận nhiều việc, lãnh đạo hay thay đổi phân công nên giới thiệu muộn. Hoặc như đảng viên hay vắng sinh hoạt;  đảng viên lãnh đạo cư trú trong các khu tập thể cơ quan chưa quan tâm thực hiện quy định của khu dân cư.... nhưng cấp uỷ nơi cư trú vẫn e ngại trong việc tham gia ý kiến.
     Về nội dung sinh hoạt: đối với đảng viên đương nhiệm sẽ không thể tổ chức sinh hoạt với nhiều thời gian. Thế nên trong thời gian quy định cấp uỷ địa phương cần chuẩn bị kỹ càng, có bàn định tập thể lựa chọn những vấn đề rất cụ thể thiết thực để báo cáo gọn trong sinh hoạt đảng viên nơi cư trú. Tránh dài dòng, ôm đồm theo kiểu báo cáo học tập nghị quyết, báo cáo tất cả mọi vấn đề kinh tế xã hội địa phương mà thực ra rất nhiều đảng viên đã biết quá rõ. Nên chăng cấp uỷ cần lựa chọn báo cáo thêm những vấn đề chủ yếu nhất mà cán bộ nhân dân quan tâm; những vướng mắc trong tư tưởng, một vài dự án tiêu biểu đang có những vấn đề cần tranh thủ ý kiến đảng viên đương nhiệm...và bố trí thời gian phù hợp để tiếp nhận phản hồi.
      Đối với việc phối hợp quản lý đảng viên: hiện nay số đảng viên được giới thiệu sinh hoạt nơi cư trú rất đông và còn được bổ sung thường xuyên. Nên việc triệu tập đảng viên đương nhiệm tham dự sinh hoạt đầy đủ về số lượng là điều rất khó. Tổ trưởng 76 nên chủ động phối hợp để cấp uỷ địa phương để lựa chọn thời gian thích hợp khi triệu tập họp đảng viên sinh hoạt nơi cư trú. Nên ưu tiên thời gian để đảng viên có trọng trách cao có điều kiện tham gia sinh hoạt. Tổ đảng 76 nên phân công đảng viên thi thoảng tiếp xúc cán bộ nhân dân địa bàn mình cư trú để trực tiếp nghe thêm những điều nhân dân quan tâm đến cán bộ đảng viên đương nhiệm mà nhiều khi do tế nhị đã bị bỏ sót trong những sinh hoạt thường kỳ...
       Việc nhận xét đảng viên tham gia sinh hoạt nơi cư trú rất dễ hình thức, vì cấp uỷ nơi đương nhiệm không thể có đủ điều kiện đi về cơ sở để nắm tình hình đảng viên nơi cư trú. Nhiều đảng uỷ ký nhận xét đóng dấu trước và giao quyền cho bí thư chi bộ cơ sở ghi theo mẫu có sẵn. Tuy nhiên một số cấp uỷ đã có cách làm hay là phân công cấp uỷ viên phụ trách số lượng đảng viên nhất định. Trong quá trình theo dõi đảng viên về nơi cư trú đã biết bám vào những mặt mạnh yếu của gia đình. Hàng năm phân loại ra những nhóm đảng viên còn có vấn đề và đảng viên tham gia tốt ở cơ sở. Trước khi nhận xét để gửi về cấp uỷ đương nhiệm ở cơ quan đơn vị; tập thể cấp uỷ họp mở rộng xin ý kiến về những đảng viên còn có vấn đề làm căn cứ cho cấp uỷ nhận xét cụ thể. Điều này không chỉ tránh được thành kiến cá nhân mà còn thể hiện được sự công khai, dân chủ, khách quan hơn nên thực sự có tác động tích cực đến hoạt động của đảng viên và gia đình đảng viên nơi cư trú.
          Nói tóm lại Quy định của Bộ Chính trị nhằm để cán bộ đảng viên gắn bó hơn mối quan hệ cán bộ, đảng viên giữa các cấp, giữa Đảng với dân để nhằm tăng cường vài trò lãnh đạo của Đảng, phát huy trách nhiệm của từng đảng viên, từ đó khắc phục những biểu hiện “quan cách mạng”, quan liêu xa dân, thiếu thực tiễn khi đề ra mọi chủ trương chính sách và chỉ đạo thực tiễn. Bởi vậy thiết nghĩ Quy định này không nên hiểu chỉ là giới hạn bởi việc thường xuyên giữ mối liên hệ giữa đảng viên đương nhiệm với cấp cấp uỷ nơi cư trú và gương mẫu thực hiện thực hiện nghĩa vụ công dân; mà quan trọng hơn là việc buộc đảng viên đương nhiệm phải sống gần dân hơn, nghe được tiếng nói từ đáy lòng nhân dân để góp thêm nội lực làm cho mọi chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước đều mang trong mình hơi thở cuộc sống . Đây là điều quan trong và rất có ý nghĩa để góp phần giải quyết những vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay./.
                                                                                             8-2014


Thứ Năm, 18 tháng 9, 2014

Tướng quân Hà Mại tấm gương trung, hiếu, trí, dũng của hậu duệ họ Hà xứ Nghệ

Trong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, tấm gương của các bậc tiền nhân là vô cùng quan trọng. Đó là niềm tự hào, tài sản tinh thần vô giá để lại cho các bậc hậu thế làm nguồn vốn sức mạnh nhân lên ý chí quyết tâm phấn đấu nối gót cha anh góp sức xây dựng và bảo vệ đất nước. Đòng họ Hà xứ Nghệ mà thuỷ tổ Hà Mại là một điển hình như thế. Hà Mại tự là Hà Tông Hiếu, sinh ngày mồng 8 tháng 4 năm Giáp tuất (1334) trong một gia đình hào trưởng phía bắc kinh kỳ Thăng Long. Được cha mẹ có điều kiện cho ăn học thấu đáo, Hà Mại đã sớm ý thức được thời cuộc nên ra sức rèn chí luyện tài để giúp ích cho đời. Sinh ra và lớn lên trong bối cảnh triều đình có những biến cố đặc biệt, Hà Mại được chứng kiến những biến động lớn của đất nước mà nổi lên trong đó là phía bắc nhà Minh đang lăm le xâm chiếm nước ta. Chúng nhiều lần đem quân xuống gần Thăng Long để thăm dò nội triều Đại Viêt. Trong những năm Đại Việt bị hạn hán, lũ lụt lớn, dân tình đói kém, chúng vẫn thường xuyên yêu cầu cống nộp nhiều nhà sư, cây ăn quả để trồng (như mít, hồng, vải, nhãn), lương thảo, nhân lực, thớt voi để dẹp loạn... Đây là sự báo trước một nguy cơ bị tấn công quân sự lâu dài. Phía Nam của đất nước, giặc Chiêm Thành thường xuyên quấy phá, xâm lấn, càn quét cướp bóc của cải dân lành, nhiều lần vào tới kinh đô. Đặc biệt là tình hình trong nước cuối những năm 80 của thế kỷ XIV; trải qua chặng đường đầy vinh quang sau khi đánh bại quân Nguyên Mông, xây dựng và phát triển nền văn minh Đại Việt rực rỡ. Với hào khí Đông A đã kéo dài hơn 100 năm; triều Trần bước vào giai đoạn mạt kỳ đang trên đường suy yếu, mục nát. Các quyền bính trong triều dần dần chuyển vào tay thế lực ngoại triều. Đáng chú ý là vây cánh của Lê Quý Ly (sau lấy lại họ gốc là Hồ Quý Ly) - một người đã biết bám vào vị thế có hai người cô ruột là thân mẫu của 2 vị vua Trần Minh Tông và Trần Nghệ Tông; có cháu gái lấy vua Trần Duệ Tông được phong là Gia Từ hoàng hậu; lại có vợ là công chúa Huy Ninh em vua Trần Nghệ Tông nên được nhà Trần tin dùng giao cho nhiều trọng trách quyền bính. Thế lực Lê Quý Ly ngày một lớn mạnh đang từng bước tiếm quyền nhà Trần vì những quan hệ thân thích đó. Kẻ thù ngoại bang phía Bắc, phía Nam cùng với triều đình như vậy khiến cho tình hình trong nước thêm khó khăn, mất ổn định. Yêu cầu huy động sức người sức của trong dân ngày một cao. Đời sống người dân bị tác động lớn còn do nạn trộm cướp, tội phạm nổi lên khắp nơi buộc triều đình phải thường xuyên điều quân dẹp loạn. Nội triều như vậy đã tác động mạnh mẽ vào hàng ngũ quan chức cận thần vốn một thời trung quân ái quốc đi theo phục vụ triều đình, buộc nhiều tướng lĩnh cận thần có tên tuổi tài năng ly tán, từ bỏ áo quan lui về tìm nơi ẩn dật. Trong số đó có Tư nghiệp Quốc tử Giám Chu Văn An dâng sớ đề nghị “Thất trảm” lên Vua không được trả lời đã treo mũ, áo quan bỏ về; Chương túc quốc thượng hầu Trần Nguyên Đán nghỉ quan về Côn Sơn Hải Dương, Hà Mại về xứ Tĩnh Thạch phía Nam Thị xã Hồng Lĩnh ngày nay .... Một sự kiện đánh dấu bước chuyển biến quan trọng trong triều Trần là sau khi nhà vua Trần Duệ Tông đại bại vì bất chấp mọi can ngăn của bề tôi, mang quân trực tiếp đi đánh Chiêm Thành. Sử sách còn chép lại rất rõ: khi quân Chiêm thành trá hàng Đại tướng Đỗ Lễ đã can nhà vua rằng: "Nó đã chịu hàng, là muốn bảo toàn đất nước làm đầu. Quan quân vào sâu đánh phá thành giặc là việc bất đắc dĩ. Xin hãy sai một biện sĩ cầm mảnh thư đến hỏi tội, để xem tình hình hư thực của giặc, như kế sách của Hàn Tín phá nước Yên ngày trước, không phải khó nhọc mà thành công. Cổ nhân có nói: "Lòng giặc khó lường". Thần xin bệ hạ hãy xét kỷ lại" (1). Hoặc như: "Chiêm Thành chống lệnh, tội cũng chưa đáng phải giết. Song nó ở tận cõi tây xa xôi, núi sông hiểm trở. Nay bệ hạ vừa mới lên ngôi, đức chính, giáo hóa chưa thấm nhuần được tới phương xa, nên sửa sang văn đức khiến nó tự đến thuần phục. Nếu nó không theo, sẽ sai tướng đi đánh cũng chưa muộn". (2) Mặc dù vậy vua Trần Duệ Tông vẫn quyết không nghe: "Ta mình mặc giáp cứng, tay mang gươm sắc, dãi gió dầm mưa, lội sông trèo núi, vào sâu trong đất giặc, không ai dám đương đầu với ta. Thế là cái cơ trời giúp cho ta đó. Huống chi nay chúa giặc nghe tin đã chạy trốn, không còn lòng dạ đánh nhau. Cổ nhân nói: "Dùng binh quý thần tốc". Nay nếu dừng lại không tiến, thì thực là trời cho mà không lấy, để nó lại cơ mưu khác thì hối sao kịp. Ngươi chính là hạng đàn bà". (3) Nhà vua ra lệnh tấn công, Vua quan Nhà Trần bị Vua Chiêm Chế Bồng Nga liệu kế phục kích, cả Vua và nhiều tướng lĩnh tài ba thân cận bị giết chết. Từ đó gần như cơ đồ, quyền bính Nhà Trần chuyển sang tay Phụ chính Thái sư Lê Quý Ly. Chứng kiến và xẻ chia hoàn cảnh đất nước đã từng bước tạo dựng cho Hà Mại những bước lựa chọn cuộc đời. Do có vốn hiểu biết ban đầu, lại có thêm tư chất thông minh từ gia đình hun đúc; anh hiểu rõ hơn vận nước có thể đi đến đâu. Đây là những tiền đề hết sức quan trọng giúp anh có những quyết định sáng suốt để rèn chí làm người. Nhìn tổng thể cho thấy Hà Mại đã có nhiều sự lựa chọn sáng suốt, làm nổi bật một điển hình về trung, hiếu, trí, dũng: Trước hết đó là việc chuẩn bị cho mình hành trang giữa thời loạn lạc. Sau khi được cha mẹ cho học hành khá chu đáo Anh đã sớm xây dựng niềm đam mê và bước vào tu luyện võ thuật. Năm 17 tuổi, anh dự thi đỗ hạng ưu khoa thi quan võ, được nhà vua bổ nhiệm huấn luyện và chỉ huy đội quân cấm vệ bảo vệ Triều đình. Với tài năng và ưu thế võ nghệ, chỉ 5 năm sau Anh được bổ nhiệm chỉ huy đơn vị bảo vệ Thái thượng hoàng Trần Minh Tông và Thượng hoàng Trần Dụ Tông đi kinh lý biên giới phía Nam nước Đại Việt. Để đảm bảo biên cương vững chắc; Hà Mại đã được giao trú lại Trấn Nghệ An (bao gồm cả Nghệ An và Hà Tĩnh ngày nay) để xây dựng phòng tuyến biên giới phía Nam Đại Việt chống lại sự quấy phá của quân Chiêm Thành. Cuộc đời cầm quân cái quan trọng hàng đầu là phải trung thành với Vua, với nước, đây là yếu tố tiên quyết để tồn tại và thăng tiến. Được triều đình giao trọng trách, trong mọi hoàn cảnh Hà Mại vẫn quyết tâm, tận tuỵ tìm mọi cách để hoàn thành nhiệm vụ. Ngay cả khi đất nước gặp khó khăn, nhà Vua và nhiều tướng sĩ tử trận; Hà Mại vẫn quyết chí vận động nhân dân, tổ chức lực lượng xây dựng phòng tuyến vệ quốc vững chắc. Mặc dù trong điều kiện phía Bắc nhiều lần quân địch đánh vào tận kinh đô, quan quân Nhà Trần phải rút chạy để kẻ địch phá phách kinh thành sau đó rút lui; thế nhưng trong hơn 13 năm từ 1376 đến 1389 tướng quân Hà Mại đã cùng quân sĩ đánh bại 6 đợt tấn công mãnh liệt của đội quân Chiêm Thành. Đội quân phòng thủ của Hà Mại đã hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ, bảo vệ vững chắc biên giới phía Nam của đất nước. Với công lao và sự cống hiến cho đất nước của Hà Mại triều đình nhà Trần đã phong tước cho ông: Phụ Quốc, Thượng tướng quân, Thượng vị hầu và bổ làm Trấn thủ Nghệ An Một điều nói lên lòng trung thành với nhà vua và tài năng dũng khí của Hà Mại, là sự đoán biết diễn biến trước của thời cuộc để quyết tâm xây dựng hậu cứ vững mạnh khi có điều kiện tham gia chống gặc lớn phương Bắc. Cuối những năm 80 của thế kỷ XIV, triều đình nhà Trần xảy ra nhiều biến cố phức tạp: Lê Quý Ly từng bước loại bỏ Nhà Trần, tìm cách buộc vua Trần uỷ thác việc triều chính, đến những hành động hèn hạ bố trí giết hại Vua Trần Phế Đế (tháng 12-1388); sau đó là Trần Thuận Tông 1399, chính sự của nhà Trần bắt đầu bị Quý Ly nắm quyền. Đoán trước được sự thanh trừng nội bộ bi thảm do Hồ Quý Ly lộng quyền, trung thành với vua Trần mà một đời mình phụng sự; thấy không thể tiếp nối hầu hạ một vị vua với lòng dạ như thế; tướng quân Hà Mại xin từ quan, về ở ẩn ở vùng núi Hồng lĩnh. Sau này, nơi đây đã trở thành căn cứ địa của cụ Hà Mại và con trai Hà Tông Chính (lúc nhỏ là Hà Dư) cùng nhà Hậu Trần chiến đấu anh dũng chống giặc Minh xâm lược (1407-1413). Lịch sử ghi lại rằng, cuối cùng, toàn bộ vua tôi nhà Hậu Trần đều tử tiết oanh liệt chứ quyết không đầu hàng quân Minh. Có lẽ người đời ngưỡng mộ tướng quân Hà Mại cũng không chỉ sự tài năng thao lược chỉ huy chiến đấu của ông, mà ở ông còn nổi lên một sự nhìn xa trông rộng. Trong khi lo hoàn thành tốt công việc Triều đình, ông còn dày công rèn luyện con trai để lo nối nghiệp làm tướng theo ông. Mối tơ duyên của ông với Lê Thị Quý Yên người con gái một xã trưởng vùng Trấn ải đã cho ông người con trai đầu là Hà Tông Chính (Hà Dư). Ông xem nơi đây là quê hương thứ hai nên cùng vợ sớm lo cho con học hành chu đáo. Ông đặc biệt quan tâm việc rèn đức luyện tài cho con của mình, nên Hà Tông Chính và cháu thứ hai là Hà Sản (con thứ Hà Tông Chính) sớm trưởng thành trở thành cánh tay đắc lực cùng ông xây dựng hậu cứ, tích cực chiến đấu chống quân xâm lược. Được gần gủi và rèn luyện bên cạnh người cha thân yêu, Hà Tông Chính đã sớm bộc lộ tài cầm quân và khí phách hiên ngang của một tướng quân chiến đấu chống quân Chiêm Thành giữ gìn biên cương phía Nam của đất nước Đại việt. Bởi vậy, năm 1396; lúc mới 30 tuổi Hà Tông Chính đã có nhiều thành tích trong chiến đấu và xây dựng lực lượng nên đã được triều Trần phong Hoàng Bảng Đại tướng quân. Trong cuộc chiến chống quân Minh, Hà Tông Chính còn tham gia trận đánh lớn và chiến thắng vang dội ở Bồ Cô tiêu diệt 10 vạn quân địch… Mùa hè năm Quý Tỵ 1413 quân Nhà Minh ồ ạt tấn công Đại Việt. Tướng quân Hà Tông Chính đã là một trong những vị tướng cuối cùng của triều Trần trên mặt trận Nghệ An, dũng cảm ngoan cường chiến đấu chống quân Minh đến giọt máu cuối cùng. Ông đã để lại hình ảnh đẹp trong lòng dân xứ Nghệ về một vị tướng dũng mạnh, trung kiên, không sợ hy sinh vì dân vì nước. Như vậy xét trên tài năng bẩm sinh, năng lực hoàn thành trọng trách của triều đình giao phó, lòng trung thành với nhà vua, sự nhạy cảm thời cuộc đến việc rèn cặp con cháu thì tướng quân Hà Mại không chỉ là thuỷ tổ, người khai sinh ra dòng họ Hà ở đây, mà còn là một tấm gương chuẩn mực cho các thế hệ mai sau. Đây cũng là nhân lõi quan trọng trong khối di sản quý báu mà hậu duệ họ Hà xứ Nghệ mãi mãi lấy làm niềm tự hào nhân lên ý chí sức mạnh nối gót tướng quân xây nên nhiều bậc nhân tài có vị trí lớn qua các triều đại về sau. Thực tế lịch sử đã để lại cho chúng ta những bậc công thần đầy tài năng, cống hiến lớn cho đất nước trên nhiều lĩnh vực được người đời ngưỡng mộ và tôn kính. Tuy nhiên, chiến tranh có quy luật khắc nghiệt của nó; sau khi giặc Minh đặt được ách thống trị lên đất nước ta, cháu chắt Hà Mại phải mai danh ẩn tích đi nhiều nơi tránh sự truy lùng của giặc. Theo quy luật của sự phát triển, con cháu của Hà Mại vẫn sinh sôi nẫy nở cho tới nay đã trên 25 đời; sinh sống hầu hết ở các huyện, thành, thị của tỉnh Hà Tĩnh, Nghệ An, nhiều tỉnh, thành khác trong cả nước và một số nước trên thế giới. Đối với vùng đất xứ Nghệ nói chung, Hà Tĩnh nói riêng rất nhiều người con các thế hệ họ Hà trên từng vùng đất khác nhau, trên mỗi lĩnh vực khác nhau đã làm rạng danh quê hương từ đời này qua đời khác. Có thể kể tới một số danh nhân tiêu biểu mà người đời ngưỡng mộ danh thơm lừng lẩy các bậc tài năng họ Hà sau đây: Hà Công Trình (1434-1511) hậu duệ đời thứ tư của tướng quân Hà Mại thuộc dòng gốc họ Hà ở xã Tùng Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh, đây là chiếc nôi họ Hà đầu tiên của Hà Tĩnh. Sau khi Tướng quân Hà Tông Chính tử trận, Hà Nho là con cả Hà Tông Chính, cháu đích tôn Hà Mại về lánh nạn tại vùng bưng biền phía tả ngạn sông Nghèn (xưa là xã Tỉnh Thạch, huyện Thiên Lộc) nay là xã Tùng Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh rồi định cư ở đó cho tới ngày nay. Noi gương các bậc tiên tổ Hà Công Trình hậu duệ đời thứ tư của tướng quân Hà Mại đã học hành thành đạt. Năm Bính Tuất 1466 dưới triều vua Lê Thánh Tông, Hà Công Trình đã thi đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ được bổ làm Tri huyện, Tri phủ, Tham chính sứ sau đó được điều về triều nhận chức Thái thường tự khanh, tiêp đến là Nhập thị Kinh Diên với trọng trách giảng sách cho Vua và các Hoàng tử. Với tài năng của mình, Hà Công Trình đã được triều đình giao phó nhiều trong trách lớn như: Thượng thư Bộ Hình, Bộ Binh, Bộ Công và sau cùng là Tế tửu Quốc Tử Giám trông coi việc đào tạo nhân tài cho đất nước một thời hưng thịnh dưới triều Lê. Một nhân tài khác của dòng họ Hà Can Lộc là Tiến sĩ Hà Tông Mục (1653-1707); ông là cháu trùc hệ đời thứ 7 của Hoàng giáp Hà Công Trình. Khi mới sinh ra đã có thiên tư dĩnh ngộ, dáng vẻ khoáng đạt, thông tuệ hơn người. Mới 7, 8 tuổi đã thông thi lễ; 13 tuổi đã thạo văn từ, Hà Tông Mục sớm tỏ ra là người có chí lớn, say me học hành, nên 22 tuổi đã thi đỗ giải thi Hương và 36 tuổi đỗ tiến sĩ. Từ đây, ông trải qua đời làm quan  ở Viện Hàn lâm, làm Đốc đồng ở Tuyên Quang và Hưng hoá, làm Tuần phủ ở tỉnh An Biên. Năm Chính Hoà 14 ông nhậm chức Lại khoa, Nội tán, Thuỷ sư rồi tham gia biên soạn sách Đại Việt sử ký tục biên. Năm 1797 ông giữ chức Phủ doãn Phủ Phụng Thiên. Năm1699 ông được giao đi kinh lý Bảo Lạc dàn xếp chuyện Biên giới với quân Thanh. Tướng quân nhà Thanh Trì Phượng buộc phải hổ thẹn, tạ lỗi và xin rút quân về, biên giới bình yên trở lại. Ông được vua Khang Hy trọng nể và tặng bức Đại tự mang dòng chữ “ Nhược Xung Hiên” biểu thị việc tôn vinh ông là người tài đức trọn vẹn. Vì tài đức như thế, nên ông đã trở thành một hiện tượng hiếm có trong lịch sử là khi còn sống được nhân dân quý trọng yêu thương mà lập đền thờ gọi là Sinh từ. Trong tấm bia Sùng chỉ ở đền thờ có đoạn viết: “Công (tức Hà Tông Mục) đối với quê hương ơn sâu, đức dày, có nhiều công ngăn trừ tai hoạ, xóm làng đều bội phục, xin tôn thờ Công và phu nhân làm hương tổ phụ mẫu...”. Đáp lại thịnh tình này, Hà Tông Mục nói: « Việc trung cần đối với nước, việc hiếu thuận đối với nhà, ăn ở hoà mục với dân làng là chức phận đương nhiên của tôi vậy ». Vào đầu thế kỷ XX, dòng họ Hà xứ Kim Nặc, Tổng Thổ Ngoạ (nay là xã Cẩm Hưng, Cẩm Xuyên Hà Tĩnh) xuất hiện một nhân vật có tên tuổi lớn đó là Hà Huy Tập (1906-1941). Ông là hậu duệ thứ 21 của tướng quân Hà Mại, sinh ra trong một gia đình nhà nho, thân phụ là Hà Huy Tường từng đỗ Cử nhân nhưng không ra làm quan mà chỉ dạy học kiêm bốc thuốc chữa bệnh ở địa phương. Chứng kiến cảnh đời của người dân nô lệ thực dân phong kiến, khiến Hà Huy Tập mơ ước được dấn thân vào con đường cứu dân cứu nước. Là một người thông minh nên sớm nhận thức được thời cuộc, sau khi tốt nghiệp trường Quốc học Huế, Hà Huy Tập đã theo nghề dạy học để vừa có chổ nương thân hoạt động, đồng thời có điều kiện để giáo dục giác ngộ học sinh theo hướng yêu nước, chống áp bước, bất công. Năm 19 tuổi ông đã tham gia tổ chức Hội Phục việt, một tổ chức yêu nước, sau này là Tân việt cách mạng Đảng và là một bộ phận tiền thân của Đảng cộng sản Việt Nam. Do hoạt động tích cực Hà Huy Tập được tổ chức cách mạng ở nước ngoài chọn đưa đi học tại Trường Đại học Phương Đông của Quốc tế cộng sản. Sau khi học xong Hà Huy Tập đã được bố trí tham gia Thư ký Ban Hải ngoại của Đảng. Đồng chí là người trực tiếp chuẩn bị và tổ chức Đại hội lần thứ nhất của Đảng (27/3 đến 31/3/1935) . Được tổ chức phân công Hà Huy Tập đã về nước khôi phục Ban Trung ương lâm thời và đã chính thức đảm nhiệm chức vụ Tổng Bí thư của Đảng cộng sản Việt Nam vào tháng 3 năm 1936. Với trọng trách của mình, Tổng Bí thư Hà Huy Tập đã có quyết định chuyển hướng chỉ đạo chiến lược quan trọng cho Đảng trong thời kỳ đấu tranh dân chủ (1936-1939). Đồng chí còn để lại nhiều tác phẩm có giá trị lý luận và thực tiễn cho Đảng như Sơ thảo Lịch sử của Đảng cộng sản Đông Dương ; Vì sao cần ủng hộ Mặt trận Bình dân bên Pháp; Thư ngõ về Đại hội Đông Dương....Khi sa vào tay giặc đồng chí đã giữ trọn khí tiết người cộng sản và trả lời dứt khoát với trạng sư bào chữa trước khi bị kẻ thù kết án tử hình: «Tôi chẳng có gì phải hối tiếc. Nếu còn sống tôi sẽ tiếp tục hoạt động!» Do cuộc sống mưu sinh và nhiều lý do khác nhau dòng họ Hà Tùng Lộc còn thiên di đi nhiều nơi trong tỉnh như Cẩm Xuyên, Nghi Xuân, Hương Sơn, Đức Thọ, ngoại tỉnh như Diễn Châu, Quỳnh Lưu, Yên Thành, Đô Lương, tp Vinh thuộc Nghệ An, xa hơn như Thanh hóa, Hà Nội, Quảng Ninh, một số tỉnh thành phía Nam nước Việt và một số vùng miền trên thế giới. Tiếp nối truyền thống cha ông con cháu hậu duệ họ Hà khắp mọi miền đều có người thành đạt rạng danh tên tuổi trên các lĩnh vực. Có thể kể đến như Bảng nhãn Hà Tông Huân (1697 – 1765), đỗ đầu khoa thi Tiến sĩ năm 1724 là người nổi tiếng vào thời bấy giờ ở tài năng và đức độ. Ông đã từng gữ chức Thượng thư bộ Binh, Tham tụng (Tể tướng), được phong hàm Đại tướng đi đánh giặc dẹp loạn thắng lợi. Hà Tông Huân là tác giả nhiều bộ sách giáo khoa thời bấy giờ. Cháu của ông là Hà Tông Quyền (1798 – 1839), Tiến sĩ khoa thi năm 1822 thời Nguyễn. Thời Cần vương có Hà Văn Mỹ (Hà Văn Côn) là tướng quân thuộc quyền Phan Đình Phùng, chỉ huy đội quân Xuân thứ (bao gồm toàn bộ lực lượng nghĩa quân và nhân dân vùng Nghi Xuân Hà Tĩnh). Về học hành khoa cử còn có nhiều người đỗ đạt như Hà Tông Tuấn, Hà Tông Giao, Hà Nguyễn Tiến, Hà Bảo, Hà Văn Gia (Hà Văn Gia là tác giả một số bản Gia phả họ Hà đang được lưu giữ tại viện Hán – Nôm), Tiêu biểu thời trước trước cách mạng tháng 8 năm 1945 có Hương cống Hà Huy Sào, Hà Huy Quang, Hà Huy Kiểu, Hà Huy Phẩm, Hà Huy Nhiếp, Hà Học Văn. Hà Học Hải, Hà Từ. Khi có Đảng Cộng sản sau Cố TBT Hà Huy Tập còn có Bí thư Tỉnh ủy Hà Tĩnh Hà Quang Tập (1941), Hà Uyên (1949), các UVTW Đảng Hà Huy Giáp, Hà Xuân Trường, Hà Học Trạc; Nhiều người nổi tiếng đã có những đóng góp đáng kể vào sự nghiệp giải phóng, xây dựng và bảo vệ tổ quốc tiêu biểu như Hà Học Hợi, Hà Văn Tấn, Hà Huy Khoái, Hà Huy Khôi, Hà Huy Vui, Hà Học Ngô, Hà Huy Kế, Hà Huy Cương, Hà Huy Tâm, Hà Huy Tiến, Hà Huy Thông, Hà Huy Tuấn, Hà Huy Tài, Hà Văn Hạp, Hà Văn Mạo, Hà Văn Ngạc, Hà Văn Quyết, Hà Văn Hùng, Hà Thị Mỹ Hương, Hà Anh Đào, Hà Mai Hiên, Hà Minh Hùng … Con cháu hậu duệ các đời tiếp theo, dù ở đâu cũng đều cố gắng học hành, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ, nhiều người có công với nước làm rạng danh họ Hà noi theo tấm gương trung, hiếu, trí, dũng của Tướng quân Hà Mại kính yêu./. -------------------------------------------- (1) Xem Đại Việt Sử ký toàn thư-Bản kỷ-quyển VII trang 269 (2) Xem Đại Việt Sử ký toàn thư-Bản kỷ-quyển VII trang 270 (3) Xem Khâm Định Việt sử thông giám cương mục- Chính biên – Quyển X- trang 298