Thứ Năm, 21 tháng 2, 2013

Trí thức Hà Tĩnh với sự nghiệp Công nghiệp hoá, Hiện đại hoá hiện nay

TRÍ THỨC HÀ TĨNH VỚI SỰ NGHIỆP

CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ HIỆN NAY

        Phải nói rằng trí thức Hà Tĩnh có vị trí rất lớn. Vị trí lớn không phải với số lượng lớn hơn 15.000 người , chiếm 1,3% dân số mà ở chổ trí thức Hà Tĩnh hiện đang chi phối toàn bộ hoạt động kinh tế, văn hoá, xã hội của tỉnh. Có thể nói đội ngũ trí thức đang quyết định vận mệnh, bước tiến của tỉnh nhà. Vì hầu hết trí thức giữ các vị trí chủ chốt của các cơ quan Đảng, chính quyền, đoàn thể, các tổ chức xã hội, các đơn vị, doanh nghiệp Nhà nước... Đội ngũ trí thức này đang là người hoạch định mọi phương hướng, mục tiêu, kế hoạch và chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện để đạt mọi yêu cầu đề ra. Nói Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ giám sát sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, nhưng người có vai trò quyết định mọi thắng lợi đó thuộc về Đảng. Trong khi người đứng đầu các cấp uỷ Đảng hiện nay từ tỉnh đến các huyện, thị, đảng bộ trực thuộc đều là những trí thức. Dù ở mức độ khác nhau, tất cả các đồng chí đứng đầu đều đã qua các trường lớp đào tạo, được trang bị những kiến thức chung nhất định, đảm bảo chi phối  mọi hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo qua sự vận động của lao động trí óc và huy động được trí tuệ của đội ngũ.
        Trong những năm đổi mới vừa qua, gắn với những kết quả đạt được trên các lĩnh vực, chúng ta không thể không thừa nhận vai trò lớn của trí thức. Công lao to lớn của tri thức Hà Tĩnh vừa qua là đã biết chọn lựa, tìm tòi được những mắt khâu then chốt để huy động toàn lực phấn đấu giành lấy kết quả làm điểm tựa, tạo đà cho sự phát triển. Chúng ta đã giành được thành tích đáng kể trong xây dựng hạ tầng cơ sở, điện, đường, trường, trạm, các cụm điểm công nghiệp, thông tin...Những lĩnh vực đó đòi hỏi cao của trí tuệ . Phải cân nhắc thận trọng từng quy trình kỷ thuật, từng đồng tiền, thiết bị để chúng ta có được sự thay đổi bộ mặt xã hội từ thành thị đến nông thôn như hôm nay. Không có những xử lý kỷ thuật sáng tạo như lòng hồ Kẻ Gỗ, hệ thống kênh mương thuỷ lợi...làm gì chúng ta có được những vùng lúa 3 vụ trên những vùng đất cằn, cát bạc màu; không có những đầu tư khảo sát, kiểm nghiệm, nâng cao trình độ kỷ thuật giống cây, thâm canh, thì làm sao cũng chừng ấy diện tích chúng ta đã nâng được bình quân từ 90 kg lên 360kg lương thực đầu người để giải quyết nạn thiếu lương thực triền miên như trước đây. Dẫu chưa nên tự bằng lòng khi chúng ta có nhiều lĩnh vực được xếp vào bậc mạnh của cả nước. Những công nghệ kỷ thuật tiên tiến đang được phát triển dần ở địa phương...như luyện quặng than, sản xuất bia, chế biến đông lạnh...Nhiều giống cây, con năng suất cao đã được du nhập; hệ thống máy móc thiết bị khám chữa bệnh hiện đại được tăng cường, kể cả công nghệ nuôi cấy mô tế bào, hệ thống các trung tâm vi tính trong các trường học, thông tin viễn thông, bưu điện.v.v..Tất cả những lĩnh vực trên đây có được ở địa phương đều gắn liền với đội ngũ trí thức Hà Tĩnh.
       Mấy năm gần đây, nhất là những năm đổi mới vừa qua, một điều rất dễ thấy là đội ngũ trí thức Hà Tĩnh đã có những bước trưởng thành cả về số lượng và chất lượng. Ở trên mọi cương vị khác nhau, trí thức Hà Tĩnh có ý thức phấn đấu vươn lên mạnh mẽ. Ngày mới tách tỉnh, cả tỉnh chỉ có 6 đến 7 tiến sĩ, phó tiến sĩ, không đầy một chục thạc sĩ. Vậy mà đến nay đã có 14 tiến sĩ, gần 100 thạc sĩ khoa học. Rất nhiều trí thức có trong tay 2 đến 3 bằng đại học khác nhau, nhiều chứng chỉ ngoại ngữ, vi tính khác nhau. Từ chổ trí thức là những thành viên hoạt động đơn lẻ, đến nay chúng ta đã có một tổ chức Liên hiệp hội, bao gồm nhiều hội thành viên- nơi hội tụ, giao lưu của hàng chục ngàn trí thức Hà Tĩnh. Trong khó khăn của một tỉnh còn nghèo, chúng ta vẫn thấy xuất hiện nhiều gương mặt đáng trân trọng trên các lĩnh vực công nghệ, tin học, kỷ thuật, kinh tế, giáo dục, văn hoá xã hội, an ninh, quốc phòng....
          Dĩ nhiên, khi nghĩ về trí thức Hà Tĩnh, vẫn có một tâm tư lớn của nhiều người là làm sao để quê hương thu hút được nhân tài,  phát huy tốt hơn nữa trí tuệ, chất xám của đội ngũ trí thức? Câu hỏi này vẫn chưa có lời giải thoả đáng. Bởi không ai khác, chính trí thức Hà Tĩnh phải tìm lời giải. Mỗi người phải tìm lời giải cho chính mình. Thực ra trí thức Hà Tĩnh hiện nay vẫn có những nét riêng.
        Nói đến trí thức Hà Tĩnh không thể không quan tâm nhiều đến đội ngũ trí thức lãnh đạo. Đội ngũ này nhiều người đã trải qua một thời hoặc ít ra cũng có ít nhiều quan hệ với nghề sư phạm. Đây là yếu tố quan trọng góp phần tạo nên  tính đồng thuận từ trên xuống dưới. Thông thường ở Hà Tĩnh ít có những sự đấu tranh căng thẳng, gay gắt trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo. “ Tiền hô, hậu ủng” là đặc trưng của trí thức Hà Tĩnh. Tuy vậy cũng không nên cho rằng đây là điều không đáng phải suy nghĩ. Vì mọi chân lý đều tuỳ thuộc vào sự tìm tòi, có khi phải chấp nhận mổ xẻ, đấu tranh  mới có thể nhận thức đúng bản chất thực tiễn. Tâm lý ngại đấu tranh, ngại đụng chạm đến đạo lý, khuôn phép đất học đang tồn tại như một chất xúc tác mạnh, tạo ra những lá chắn trước những tư tưởng đổi mới, muốn tạo ra cái mới, hoặc muốn tiếp cận đến những cái chưa dám ăn chắc. Hơn thế, tư tưởng, tâm lý ngại khó khăn, không dám lăn xả vào thực tiễn, lo sự tròn trịa, giữ cái ổn định cố hữu vẫn còn khá rõ.v.v..và .v.v..
          Vận mệnh của công nghiệp hoá, hiện đại hoá nói chung, hay tầm cao sánh cùng bè bạn bốn phương của tỉnh nhà hẳn sẽ được định đoạt, nhưng trước hết phải cần đến những chiếc chìa khoá nằm trong tay trí thức.

                                                      Th.sĩ Trần Quang Trung
                                                     Báo Hà Tĩnh 14 / 6 / 2000
                                                        

Người là cha, là bác, là anh

NGƯỜI LÀ CHA, LÀ BÁC, LÀ ANH…

    Sau 34 năm lặn lội khắp chân trời góc bể, nếm trải biết bao cay đắng tủi nhục; tháng 9 năm 1946 Hồ Chí Minh được nhân dân tôn vinh làm Chủ tịch đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Từ đây đất nước sang trang, tên tuổi Việt Nam-Hồ Chí Minh hài hoà toả sáng.
      Trước hết Hồ Chí Minh vị Chủ tịch mà mục đích của cuộc đời ai ai cũng nhìn thấy rõ. Ngay sau khi tân chủ tịch nhậm chức, chúng ta đã được Người bày tỏ tâm tư vừa lớn lao vừa bình dị: "Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành". Ham muốn của Hồ Chí Minh chính là mục tiêu lý tưởng cao đẹp nhất của Người. Mục tiêu ấy như mệnh lệnh của trái tim, khối óc chi phối cuộc đời, giúp Người vượt qua khó khăn thử thách.
      Hồ Chí Minh là vị Chủ tịch luôn bình tỉnh, sáng suốt trước nguy nan. Những ngày đầu của chính quyền cách mạng, Nhà nước mới đứng trước tình thế "Ngàn cân treo sợi tóc", với sức ép nhiều bề của thù trong, giặc ngoài. Hồ Chí Minh đã cùng Đảng ta lãnh đạo nhân dân chống đỡ nhiều quốc nạn như "Giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm". Đây là thời kỳ gian khổ, căng thẳng và khẩn trương nhất đối với Người. Hồ Chí Minh đã phải xử lý những công việc đối nội, đối ngoại hết sức phức tạp. Người đã cùng Chính phủ phát động toàn dân sản xuất, tiết kiệm, chống đói, chống mù chữ cũng như áp dụng những sách lược đúng đắn: lúc hoà hoãn với kẻ thù này, lúc với kẻ thù khác để tập trung lực lượng chống kẻ thù chính trong mỗi thời kỳ cụ thể. Phương pháp xử thế cụ thể của Hồ Chí Minh là: "Dĩ bất biến, ứng vạn biến", nghĩa là lấy cái nguyên tắc không thay đổi để ứng phó với những gì có thể thay đổi được. Nhờ đó chính quyền cách mạng ngày càng được củng cố và đứng vững.
        Một người đứng đầu Nhà nước, vạch ra được định hướng chiến lược, sách lược đúng đã là vĩ đại, song cái vĩ đại hơn nhiều còn ở chổ: Hồ Chí Minh-một Chủ tịch nước luôn lo trọn chức trách của một thành viên trong nhà nước ấy. Hồ Chí Minh cho rằng: Chủ tịch xã cũng như Chủ tịch nước, phải như người lính vâng mệnh lệnh quốc gia ra trước mặt trận. Dân bảo làm thì làm, dân bảo lui thì lui. Người tâm tình chân thực: "riêng phần tôi thì làm một cái nhà nho nhỏ, nơi có non xanh nước biếc để câu cá trồng rau, sớm chiều làm bạn với cụ già hái củi, trẻ em chăn trâu, không dính líu gì đến vòng danh lợi". Khi nhà nước phát động phong trào nhường cơm xẻ áo giúp nhau: cứ 10 ngày nhịn ăn một bữa lấy gạo giúp người nghèo, Hồ Chí Minh thực hành đều đặn. Nhà nước phát động phong trào "mùa đông chiến sĩ" quyên góp áo quần giúp đỡ bộ đội ngoài mặt trận, Người đã tham gia tích cực và giải bày: Bác chỉ có hai bộ quần áo nên không có để góp, cho Bác giúp một chiếc chăn và một ít tiền.
       Hồ Chí Minh-vị Chủ tịch do dân, của dân và vì dân. Người lo trước cái lo của dân và hưởng sau cái dân được hưởng. Hồ Chí Minh chịu trách nhiệm cao  trước đời sống của dân. Theo Người: dân đói Chính phủ có lỗi, dân bị bệnh tật, Chính phủ có lỗi. Khi nhân dân miền Nam đang sống trong nanh vuốt kẻ thù, Người nói: "Mỗi nhà, mỗi người có một nỗi đau riêng, nếu đem cộng tất cả nỗi đau đó lại, thì đó là nỗi đau của tôi". Hình ảnh Hồ Chí Minh trong ký ức của mỗi chúng ta, đó là một con người bình dị, nghiêm khắc vô cùng nhưng dễ gần hết mực. Người dân rất đỗi tự hào nếu có phút giây được gặp Bác. Hồ Chí Minh là sự kết tinh, ngưng tụ của nhiều nền văn hoá, là sự hiện thân của mọi cuộc đời.
                           " Người là cha, là bác, là anh
                           Trái tim lớn lọc trăm dòng máu nhỏ"
       Trong nhiều năm kháng chiến chống Pháp, thấy Bác chỉ mặc một bộ quần áo Ka ki vàng và đi đôi dép cao su, có người đề nghị sắm cho Bác bộ quần áo tốt hơn, Bác từ chối.: “dân ta đang nghèo, đang khó khăn nhiều lắm, Bác có bộ quần áo này là đầy đủ lắm rồi". Trong kháng chiến là vậy và sau này củng vậy. Hồ Chí minh luôn hoà nhập vào cộng đồng dân tộc . Người không bao giờ cho phép mình được đặc quyền đặc lợi, sống trên mức sống của đồng sự, nhân dân. Cho đến phút cuối đời, với Người vẫn còn câu chuyện cảm động: khi sức khoẻ của Người suy giảm ngày một xấu đi, hai bác sĩ được giới thiệu đến chăm sóc sức khoẻ cho Chủ tịch, Người đã không hài lòng: Bác chỉ có một mình mà những hai bác sĩ, trong khi đó nhân dân, bộ đội, trẻ em còn rất thiếu thầy thuốc...
         Chủ tịch Hồ Chí Minh-người sáng lập Đảng ta, khai sinh ra Nhà nước ta. Nửa thế kỷ đã đi qua đầy thử thách, Nhà nước ấy vẫn ngày càng sáng đẹp vững vàng. Giờ đây chúng ta đã tuyên thề mãi mãi đi theo con đường mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn. Thiết nghĩ hình ảnh Hồ Chí Minh-vị Chủ tịch Nhà nước đầu tiên vẫn mãi mãi là tấm gương chiếu rọi cho mỗi chúng ta tiến về phía trước.
                                
                                                               Trần Quang Trung
                                                           
                                                Hà Tĩnh - Người làm báo số 4/1995

Cuộc đời hoạt động cách mạng của Lý Tự Trọng

CUỘC ĐỜI HOẠT ĐỘNG CÁCH MẠNG CỦA LÝ TỰ TRỌNG


        Dưới chế độ thực dân, phong kiến, nhân dân ta vô cùng khổ cực. Biết bao người dân lương thiện đã phải từ giã quê hương phiêu bạt khắp nơi kiếm sống. Vùng Đông Bắc Thái Lan là một trong những nơi có nhiều Việt kiều từ các tỉnh Nhệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình... đến đây cư trú làm ăn. Lê Trọng (tức Lý Tự Trọng ) đã sinh ra từ đó.
        Thân phụ Lý Tự Trọng là cụ Lê Khoan ( tức Lê Hữu Đạt) quê gốc Việt Xuyên, Thạch Hà , Hà Tĩnh. Thân mẫu là bà Nguyễn Thị Sờm, một Việt kiều quê ở Ốc Nhiêu (nay thuộc xã Trung Lộc), Can Lộc, Hà Tĩnh.
         Gia đình cụ Lê Khoan sinh được 7 người con đó là: Lê Trọng, Lê Đại, Lê Thị Quý, Lê Anh, Lê Lợi, Lê Thị Sáu và Lê Thị Bảy. Cuộc sống khổ cực của người dân xa quê luôn luôn là nguồn lực thúc đẩy gia đình Lý Tự Trọng hướng về quê hương, nuôi dưỡng tinh thần yêu nước. Gia đình Lý Tự Trọng là một trong những cơ sở cách mạng, nơi tụ họp đàm đạo của những người yêu nước Việt Nam khi qua Thái Lan. Lý Tự Trọng vốn khoẻ mạnh, thông minh, lanh lợi, vui vẻ và không thích chiều chuộng. Sau  hai năm học tiếng quốc ngữ trong bản ở Thái Lan, Trọng đã đọc thông viết thạo. Bố mẹ cho anh theo học tiếp 3 năm trong một trường Hoa Kiều ở Xiêm, anh là một học sinh xuất sắc. Với vốn hiểu biết cơ bản ấy, Trọng có thể xem truyện, đọc sách báo, nghe các bậc đàn anh kể  về gương các bậc tiền bối đã từng hy sinh cứu nước. Lý Tự Trọng sớm xác định cho mình một ý chí tự lập, một quyết tâm tiếp bước cha anh.
        Được đoàn thể dẫn dắt và Nguyễn Ái Quốc đỡ đầu, Lý Tự Trọng vào học Trường Đại học Tôn Trung Sơn ở Trung Quốc. Tại đây anh rất vui khi được học tập và rèn luyện bên cạnh những nhà yêu nước cùng chung chí lớn. Mặc dầu với vóc người nhỏ nhắn (được cán bộ nhà trường và anh em quen gọi là “ Trọng con”) song Lý Tự Trọng tỏ ra là một người cần mẫn, chăm học, chăm làm, có năng khiếu ngoại ngữ. Anh nói viết giỏi tiếng Thái, tiếng Trung Quốc và tiếng Anh. Nhờ đó , anh có điều kiện để tiếp xúc, trao đổi với nhiều lớp người và làm tốt mọi nhiệm vụ của đoàn thể giao cho.
        Mùa hè năm 1929, khi được về nước hoạt động, anh rất xông xáo và tích cực, vừa gây dựng cơ sở trong thanh niên vừa làm liên lạc giữa Trung ương với Xứ uỷ cũng như giữa Đảng ta với các nước trên thế giới. Anh thường xuyên than gia các hoạt động như rải truyền đơn, tuyên truyền, dự mít tin kêu gọi nhan dân đấu tranh. Mùa xuân 1931, Lý Tự Trọng đã sa vào tay địch sau khi anh bắn chết tên thanh tra mật thám Pháp. Cuộc chiến đấu của anh bước sang một hoàn cảnh mới- sinh mạng nằm trong tay kẻ thù, một lần nữa khí phách người thanh niên cộng sản Lý Tự Trọng lại ngời sáng hơn bao giờ hết.. Hàng ngày trong xà lim án chém anh vẫn chuyên cần tập thể dục, đọc truyện Kiều, để nâng cao thể lực và trí lực. Qua những lần kể địch tra tấn, người ta luôn thấy ở đôi mắt anh lúc nào cũng “ toả ra một thứ hào quang rực lửa căm thù”. Trước mặt kẻ thù anh khẳng định: Tôi còn nhỏ tuổi, nhưng trí khôn của tôi đủ để tôi hiểu rằng: "Con đường của thanh niên chỉ có thể là con đường cách mạng mà không thể có con đường nào khác". Không tra tấn doạ nạt được anh, chúng chuyển sang dụ dỗ, hứa hảo, mua chuộc anh: nào là vợ đẹp con khôn, nhà cao cửa rộng.v.v.. Lý Tự Trọng đã chửi thẳng vào mặt kẻ thù: “ Ta sinh ra không phải để ăn các thứ cơm ấy". Gần Ba trăm ngày đêm chịu đựng những đòn roi thử thách; kẻ địch không một mảy may nào khai thác được ở anh những bí mật của tổ chức cách mạng; song có một điều mà bọn chúng hiểu rất rõ về anh: “ một con người gang thép”, một cậu bé : “có đầu óc vĩ đại”. Phẫn nộ điên cuồng đối với người chiến sĩ trẻ, kẻ thù buộc phải đưa anh ra xử án. Toà Thống đốc Nam Kỳ đã ra thông cáo của chính phủ về việc xử án Lý Tự Trọng. Phiên toà đại hình ngày 15-4-1931 có lính tây thuộc trung đoàn 11 RIC gác từ ngoài cổng vào tận cầu thang. Nhiều báo chí hồi bấy giờ đã tường thuật vụ án, có báo còn đăng cả ký hoạ chân dung Lý Tự Trọng lên trang nhất. Báo Anh Pac-xi-an ngày16-4-1931 viết: “ Tất cả sự huy động binh lực này là để tôn vinh dự của nhân vật lớn là Huy (tức Lý Tự Trọng).
          Lý Tự Trọng chấp nhận cái chết một cách thanh thản. Anh ung dung bước lên máy chém miệng hô vang những khẩu hiệu và hát bài quốc tế ca để vĩnh biệt đồng chí, đồng bào thân yêu.
         Khi kẻ thù đã cướp đi cuộc đời quá ngắn ngủi của Lý Tự Trọng, nhưng chúng không thể giết chết được Lý tưởng của anh. Tổ chức Đảng lúc đó đã kêu gọi mọi người hướng về anh- một con người tận tâm với sự nghiệp, “ Không giờ nào, phút nào rung động ngã trí quyết tâm theo con đường giải phóng chúng ta đến cùng”.
        Ngày nay trước những bước chuyển lớn của thời đại, của sự nghiệp cách mạng; tuổi trẻ chúng ta đứng trước biết bao thử thách đối với lý tưởng, ý chí và cả cuộc sống đời thường. Chúng ta càng tự hào ngưỡng mộ những giá trị lớn lao về tấm gương chiến đấu hy sinh của người chiến sĩ cộng sản trẻ tuổi ngày đầu thời đại mới. Tấm gương đã minh chứng cho một chân lý bình dị: “Giá trị con người không phải đợi số năm đã sống”.

                                                                   Trần Quang Trung
                                                             
                                                          Báo Hà Tĩnh 18 / 10 / 1994

Khắc sâu trăn trở của Người

Chưa bao giờ như lúc này, khi mà thời gian đang tiến đến thời điểm cách đây 45 năm ngày Bác Hồ về thăm Hà Tĩnh; mỗi người chúng ta lại liên tưởng về Người, liên tưởng đến những lời di huấn sâu sắc cho đất nước, quê hương và chính bản thân mình. Không hiểu sao tôi bổng dưng muốn dừng lại, muốn giành thời gian để suy ngẩm thêm hai chữ " làm sao" của Bác trong tổng thể một lời dặn dò với quê hương: " Hà Tĩnh phải làm sao cho tình hình nổi bật lên".Quả thật ngôn ngữ Việt Nam phong phú và đa nghĩa. " Làm sao" một từ hết sức đặc biệt. Gần như ngôn ngữ nước ngoài ít có từ đa nghĩa tương ứng với nó. Theo Đại từ đển tiếng Việt thì " làm sao" nó được dùng để biểu đạt nhiều hoàn cảnh khác nhau. Có khi để tìm nguyên nhân, có khi là kết quả, có khi lại là cảm thán từ để chỉ cảm xúc lớn lao, nhưng củng có khi lại được dùng để nhấn mạnh việc tìm kiếm phương án, giải pháp về một việc gì đó. Vì đa nghĩa như vậy nên trong lời khuyên của Bác với Hà Tĩnh cách đây 36 năm, đã có người quên mất hai chữ quan trọng này để rồi biến lời khuyên của Người trở thành một mệnh lệnh chủ quan, khô cứng: Phải làm cho tình hình Hà Tĩnh nổi bật lên.Nếu cứ suy ngẫm thật sâu lời khuyên của Người chúng ta càng thấy thêm sự thâm thuý, sự day dứt của Bác, qua đó mà tăng thêm tình cảm, sáng tạo và không bao giờ được tự thoả mãn trong từng phần hành công việc của mình. Vào thời điểm năm 1966 khi cuộc chiến tranh chống Mỹ đã diễn ra ở miền Bắc, Bác nói: Hà Tĩnh phải "làm sao" là nổi niềm trăn trở của Bác. Bởi Hà Tĩnh chưa làm Bác vừa lòng mà đáng ra phải làm tốt hơn. Hà Tĩnh phải "làm sao" nghe như vừa có tính bức xúc, mệnh lệnh nhưng vừa như thông cảm, yêu thương và chờ đợi; vừa như có cái gì phải tìm kiếm, mò mẫm mà chính Bác vẫn còn đang trăn trở. Trước hết Hà Tĩnh phải tự mình tìm lấy. Bác dặn: phải "biết lắng nghe ý kiến quần chúng. Có việc mình không biết, nhưng quần chúng biết". Tìm được nó mới có thể làm thay đổi được tình hình, để nổi trội hơn hiện tại. Như thế chữ "làm sao" ở đây có ý nghĩa như một sự gợi mở cần tìm, một định hướng cho sự phát triển. Hà Tĩnh phải làm sao..." cũng có thể nghĩ đây là việc cần tìm nguyên nhân để giải quyết một thực trạng còn đang bế tắc. Phải tìm rõ nguyên nhân để xử lý, khơi thông bế tắc mà tiến lên. Lúc bấy giờ Hà Tĩnh cầu, phà, mặt đường còn chưa tốt, Xe Bắc vào Nam bị ùn tắc nhiều. Hà Tĩnh lại còn đang thiếu lương thực trong khi yêu cầu của cuộc kháng chiến là phải tự túc lương thực để tập trung phục vụ chiến trường. Thêm nữa, lúc này ở Hà Tĩnh, thuỷ lợi, thâm canh, ứng dụng tiến bộ kỷ thuật, việc trồng cây gây rừng còn kém. Nguyên nhân vì sao? Đó là những vấn đề cần tháo gỡ để phát triển. Hà Tĩnh phải làm sao..." còn là một yêu cầu bức xúc. Tỉnh Hà Tĩnh phải nghiên cứu, học hỏi kinh nghiệm để tổ chức thực hiện cho tốt.. "Làm sao" có nghĩa là làm thế nào cho có hiệu quả. Chẳng hạn lúc bấy giờ Bác nói: Ở Kỳ Anh làm giao thông tốt, nhưng nhiều nơi khác trong tỉnh làm chưa tốt, việc áp dụng khoa học kỷ thuật trong nông nghiệp còn yếu, trong khi nhiều nơi làm mạnh...."Làm sao" như là một câu hỏi lớn, Hà Tĩnh cần phải tổ chức thực hiện tốt hơn. Chỉ trong một lời căn dặn của Bác ta thấy như một sự nhắc nhở tỉnh nhà: chẳng những phải tìm ra một hướng di thích hợp, những nguồn gốc sau xa của sự yếu kém mà còn phải biết cách phát động quần chúng thực hiện thật tốt. Thời gian đã lùi xa vào lịch sử, song câu nói bất hủ của Bác như còn nguyên tính thời sự, luôn nhắc nhở chúng ta hãy cùng nhau nhẫn nại, dám nhìn vào thực tiễn một cách nghiêm túc để tự mình luôn đánh giá đúng tình hình địa phương cả mặt mạnh cũng như mặt yếu; có như vậy mới hy vọng tìm thấy một câu trả lời tốt nhất, làm cho tình hình Hà Tĩnh nổi bật lên như Người hằng mong muốn./. Thông tin Tư tưởng số 6/2002

Nguyễn Công Trứ với việc xây dựng làng, ấp

NGUYỄN CÔNG TRỨ VỚI VIỆC XÂY DƯNG LÀNG, ẤP

        Đầu thế kỷ XIX, trong số những người đi tiên phong xây dựng làng, ấp mới phải kể đến Nguyễn Công Trứ- một con người tâm huyết , trí tuệ. Tên tuổi ông mãi mãi gắn bó với chiến công khai hoang, mở mang bờ cõi, xây dựng làng, ấp mới. Trong sự nghiệp ấy, ông chẳng những lo được cái lo của dân mà còn tính được cả những điều người dân cần tính. Từ đó ông đã cùng với những người dân" chân lấm tay bùn" xây dựng thêm được những vùng quê giúp cho dân thực sự " an cư để lạc nghiệp".
        Là một đơn vị hành chính mới, Nguyễn Công Trứ đã nghĩ đến việc đầu tiên là định lượng  đơn vị dân cư phù hợp với việc tổ chức quản lý của dân. Theo ông, cứ 600 mẫu đất cùng với 50 đinh được lập một làng; 400 mẫu đất cùng 30 đinh được lập một ấp và cứ 200 mẫu đất với 15 đinh được lập một trại. Ông cho rằng làng, ấp, trại là những đơn vị dân cư bền chặt gắn bó với nhau trong một điều kiện sinh sống tương đồng. Bởi vậy lo tính cho cho sự tồn tại của một làng, chẳng những phải lo về mặt hành chính, kinh tế mà còn phải lo về mặt văn hoá xã hội. Ông đã không hề bỏ qua những quy hoạch hết sức thiết yếu trong một vùng dân cư. Làng của Nguyễn Công Trứ được hoạch định rõ những khu vực sinh hoạt vật chất, tinh thần. Xuất phát từ nhu cầu con người, làng của ông có khu vực xây cất nhà ở, xây đình, chùa, nhà thờ họ. Ông còn quy  định giành đất làm bãi tha ma, khu xây dựng trường học, bãi chăn trâu, bãi đá bóng.v.v..
         Một làng dân cư nông nghiệp bao giờ cũng khác hẳn những khu dân cư của công nghiệp lớn. Do phương thức sản xuất của mình tạo nên, những người tiểu nông thường ít chịu dừng lại trưởctước chỉ giới cuối cùng của mảnh vườn, thửa ruộng.
         Để tránh sự xâm canh, lấn chiếm bờ cõi của nhau, ông đã phân chia ô, vùng theo kiểu bàn cờ. Giữa nhà này nhà nọ ông cho đào mương thẳng tắp. Điều này vừa giải quyết được việc thoát nước, hợp vệ sinh vừa triệt tiêu điều kiện cơ bản nhất luôn làm nẩy sinh những yếu tố mất đoàn kết giữa các hộ ggia đình dân cư với nhau. Nhờ đó công cuộc khai hoang mở vùng kinh tế mới đầu thế kỷ XIX thu được thành công, được xem như " một trong những thời kỳ khai hoang lớn nhất của dân tộc ta kể từ sau thế kỷ XV" . Nhân dân an tâm lập nghiệp ở vùng kinh tế mới mà không hề phải lo tính đến việc trở về chốn cũ.
         Giờ đây sau gần ha thế kỷ, chúng ta đang xây dựng làng xã trong trình độ mới. Mặc dù đã có nhiều chính sách và quy định hết sức chặt chẽ của Nhà nước được ban hành nhưng không ít nơi vẫn nẩy sinh những vấn đề, những xích mích, đụng độ với nhau. Ngay cả chốn thị, thành, việc tổ chức các khu dân cư cũng không ít  những vấn đề đang được mọi người phân vân lo lắng. Thiết nghĩ những điều quan trọng trong việc xây dựng làng, ấp, trại của Nguyễn Công Trứ vẫn còn là những bài học bổ ích. Trước hết nó làm sáng tỏ những vấn đề then chốt cho những người quản lý Nhà nước thực sự có tâm huyết, để xây dựng những làng quê, trấn, kỵ thuận hoà, văn minh, hạnh phúc cho dân./.

                                                                   Trần Quang Trung
                                                             Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ
                                                           Báo Hà Tĩnh  8 / 7 / 1995

Thứ Sáu, 15 tháng 2, 2013

Kỷ niệm 500 năm ngày mất Danh nhân Văn hoá Trần Dực (4/1512 – 4/2012)
                                  
         Trần Dực - Danh thơm toả ngát muôn đời

      Con người Hà Tĩnh xưa nay vẫn nổi tiếng cần cù vượt khó thành đạt, song từ một người đi ở, thi đỗ tiến sĩ, được triều đình bổ làm quan to trở thành Danh nhân Văn hoá làm rạng danh vùng đất Hồng Lam thì quả là đáng kính muôn đời .
     Theo gia phả dòng họ thì Trần Dực được sinh ra trong một gia đình nghèo thuộc hạng bạch đinh ở đất Ngãi Lăng, huyện La Sơn xưa, (nay là Thị trấn Đức thọ, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh). Lớn lên trong một gia đình đông con, không có điều kiện được đi học như những con em các gia đình bình thường khác, Trần Dực phải kiếm sống bằng việc đi ở làm thuê, chăn trâu, cắt cỏ cho người giàu. Vốn người thông minh, ham học hỏi, hàng ngày dù phải làm việc lam lũ nhưng anh vẫn tranh thủ mượn sách vở bạn bè để chăm chú học bài. Bà con làng xóm thương yêu một con người hiếu học nên nhiều người đã giúp anh hạt gạo, bát cơm. Chính trong sự yêu thương đó mà anh càng thêm quyết tâm tích luỹ kiến thức, càng học càng sáng dạ. Hơn 30 tuổi sau những lần dự thi tứ trường, khảo hạch của quan lại địa phương thành công; anh bước vào thi Hương với một ý chí thầm lặng. Anh xin dự thi và gồng gánh phục vụ đi cùng con một thầy đồ gia chủ vào trường thi, vì là cơ hội để anh thử sức vốn hiểu biết ban đầu. Trong kỳ thi ấy Trần Dực đã đỗ đầu kỳ thi Hương cống. Đây là một mốc dấu quan trọng của cuộc đời để thúc dục anh tiến bước xa hơn. Biết tin anh trở thành Hương cống xuất sắc, thầy đồ nhận giúp đỡ kèm cặp việc học của anh, giúp anh có thể tiến xa hơn. Sử cũ còn chép lại: trên đường tới trường thi Hội, anh phải thay áo, thay tên làm quen và tận tình phục vụ cho một thí sinh giàu có, lấy đó làm chổ nương thân. Vào trường thi anh lo dọn chổ dựng lều bạt cho thí sinh nhà giàu, xong đâu đó mới trở về tìm chổ dựng lều thi cho mình. Kết quả kỳ thi Hội, khoa Nhâm tuất (năm 1502 Niên hiệu Cảnh Thống đời Lê Hiến Tông) anh đỗ Đệ Nhị giáp Tiến sĩ ở độ tuổi 37. Bạn thi sau khi biết tin tìm về bái tạ và chính từ đây con đường mới của Trần Dực bắt đầu toả sáng. Sau đó Trần Dực còn được dự kỳ thi Đông Các, kỳ thi của Triều đình nhằm việc chọn người tài để sữa chữa văn bản cho Nhà Vua trước khi ban hành. Ở kỳ thi này Trần Dực được đứng thứ ba sau Đông Các Đại học sĩ và Đông Các Học sĩ. Anh được phong danh hiệu Đông Các hiệu thư. Đã có lần nhà vua yêu cầu các đại thần đến hoạ thơ bằng tiếng Việt và chỉ có Đông Các Hiệu thư Trần Dực là hoạ hợp cách, nên được Vua ban thưởng... Với tài năng và nghị lực của mình Trần Dực được bổ làm quan tới chức Tả thị lang Bộ Hộ (Phụ trách nhiều phần công việc như Thứ trưởng Bộ Tài chính ngày nay) kiêm Đông Các Hiệu thư
       Có một điều rất may mắn là Trần Dực được lớn lên trong bối cảnh đất nước trọng dụng thực tài. Dưới ảnh hưởng tích cực của Nho giáo thời Minh: “Cả thiên hạ là một nhà”(1). Với quan điểm “Hiền tài là nguyên khí Quốc gia”, triều đại vua Lê có nhiều chủ trương tích cực trong giáo dục và khoa cử. Nhà nước chấn chỉnh lại việc thi cử: các quan địa phương cử người đi thi phải qua Khảo hạch ở địa phương; Trường thi rộng xét thực tài; Con em bất kể giàu nghèo, tuổi tác, nếu đủ tài đức đều được dự thi và làm quan. Quan coi thi, chấm thi nếu có con cháu đi thi phải loại bỏ; Trường thi được chia 8 ô, giữa trung tâm gành cho Giám thị trường thi; thí sinh có cửa vào dự thi và cửa ra khi hoàn thành việc làm bài, có giám thị trường thi chặt chẽ. Nhà nước chủ trương xây Điện Đại thành ở Văn miếu (có giảng đường Đông-Tây, nhà bia, phòng học của học sinh), dựng bia tiến sĩ ở Văn miếu Quốc Tử Giám để nêu gương người tài... Trần Dực đã thành danh trong môi trường như thế. Đỗ đạt làm quan ông không quên về nơi chôn nhau cắt rốn, bắc cầu Khóng (cầu Thị Lang) ở quê khơi thông khe nước cho đời sau làm ruộng được thuân lợi; để lại ngày nay:
                              “Qua lại, người người lòng ngẫm nghĩ
                                   Nhìn bia, nhớ kẻ đã qua đời” (2)
          Sách Đại Việt sử ký toàn thư - Bản kỷ - quyển XV còn chép lại rằng: mùa hè, tháng tư, năm 1512, ở Nghệ An có bọn Lê Hy, Trịnh Hưng, Lê Minh làm phiến loạn, Vua sai Khang quận công Trần Nghi và Đông Các Hiệu Thư Trần Dực dẫn thuyền đến Cửa Hội dẹp giặc. Do thế giặc quá mạnh ông phải cho thuyền ra khơi lánh nạn, không may gặp giông tố lớn làm đắm thuyền, ông hy sinh cùng đồng đội ở độ tuổi 47 tràn trề sinh lực.
      500 năm trôi qua, con cháu quê hương ông nhiều người đã ra đi làm nên cơ nghiệp lớn rạng danh vùng đất “gạo trắng nước trong”. Nay quê hương đang trên đường đổi mới vẫn đang rất cần những con người đầy nghị lực và trí tuệ. Bởi thế, cứ mỗi lần nhìn về tấm bia Tiến sĩ Trần Dực nơi Văn miếu Quốc Tử Giám thì hình bóng của ông vẫn hiện lên như một tấm gương đẹp mà tiếng thơm toả ngát muôn đời./.                                                              
                                                                          Trần Quang Trung
                                                                                               
(1) Xem Văn miếu Quốc Tử Giám. Hà Nội 1998. trang 20
(2) Xem Phong Thổ ký các huyện tỉnh Hà Tĩnh. Sở VHTT Hà Tĩnh 2001. trang 22

Cuộc di dời về Hà Tĩnh của Hoàng hậu Bạch Ngọc cuối thế kỷ XIV, một sự lựa chọn sáng suốt mang tính chiến lược.


       Sau gần 200 năm trị vì đất nước, vương triều Trần đã xây dựng nước Đại Việt trở thành quốc gia hùng mạnh với một nền văn minh rực rỡ đạt tới đỉnh cao của chế độ phong kiến Việt Nam. Thế nhưng vào cuối thế kỷ XIV, sau khi vua Trần Duệ Tông qua đời năm 1377, nhà Trần suy yếu. Nhà Hồ cướp ngôi nhà Trần, không thu phục được lòng dân đã đưa đất nước Đại việt sa vào cảnh lâm nguy. Lợi dụng tình hình đó, quân Minh mượn cớ thương thuyết với Hoàng hậu khôi phục nhà Trần kéo quân sang đất nước ta. Dưới chiêu bài khôi phục nhà Trần, quân Minh đã cử Trương phụ dẫn đầu, ngày càng tiến sâu vào đất nước ta. Điều đáng quan ngại là không ít người đã không sớm thấy được ý đồ đen tối của quân xâm lược. Đây cũng là điều gây phiền toái cho các quan lại nhà Trần còn lại trong đó có hoàng hậu Bạch Ngọc và đội ngũ những người thân cận. Có thể nói, bước ngoặt lịch sử mới đã đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết một cách chính xác và kịp thời. Nhìn lại tiến trình lịch sử càng ngày càng sáng tỏ những sự lựa chọn, quyết định sáng suốt, có ý nghĩa chiến lược của Hoàng hậu nhà Trần lúc bấy giờ. Chúng ta có thể thấy rõ một số lựa chọn, quyết định của Hoàng hậu mà giá trị trường tồn theo năm tháng như sau:
      Trước hết Hoàng hậu Trần Thị Ngọc Hào đã có quyết định sáng suốt là tổ chức một cuộc di dời về phương Nam chọn vùng núi quê hương Hà Tĩnh làm chổ đứng chân. Đoàn tùy tùng của Hoàng hậu và con gái Huy Chân gồm hơn 572 người đã tổ chức một cuộc rút khỏi kinh thành đầy gian nan khổ cực.  Mọi thành viên của đoàn phải giả cách ăn mặc người tu hành để trốn bỏ kinh thành về quê hương. Sau 50 ngày đêm vất vả, không quản đường xá xa xôi đoàn người của bà Bạch Ngọc mới về đến quê nhà. Cuộc hành quân gian nan đã làm cho lực lượng hao mòn khá lớn lúc này chỉ còn 172 người. Tuy vậy cuộc rời bỏ chốn kinh đô này có thể là kết quả của một sự  lựa chọn vô cùng có ý nghĩa. Bởi trong một bối cảnh khốn cùng như vậy vẫn có rất nhiều phương án lựa chọn khác nhau. Trong đó ở lại hợp tác với nhà Minh để duy trì triều Trần là phương án đơn giản nhất. Tuy nhiên Hoàng Hậu Bạch Ngọc đã không làm như vậy. Bà đã lựa chọn một sự rút lui thầm lặng. Sự chọn lựa này trước hết cho thấy một thái độ kiên quyết và bất hợp tác với giặc; không thể cùng chung sống với kẻ xâm lược. Hoàng hậu Bạch Ngọc đã gác quyền lợi riêng tư dòng họ, từ bỏ “Lầu son, gác tía” để tìm cuộc sống mới đầy cam go gian khổ nơi thâm sơn cùng cốc. Dù phải gian khổ hy sinh thì sự di dời của đội quân theo bà cũng ý thức được bản lĩnh và ý chí của Nhà Trần quyết tâm xây dựng lại cơ đồ, để khi có điều kiện chung tay chống giặc ngoại xâm, giữ gìn nền độc lập dân tộc. Hai là, chính việc lui quân xây xựng hậu phương mới trong thế bất khả kháng với quân thù cho thấy bà đã có suy nghĩ rất đúng rằng muốn tiếp tục cuộc kháng chiến lâu dài phải có một hậu phương vững mạnh. Bởi chính hậu phương luôn là yếu tố quyết định sự thắng lợi trên chiến trường, nên đây là một sự chọn lựa đúng đắn có ý nghĩa lâu dài.
  Tuy nhiên trong sự rút lui của lực lượng hoàng gia họ Trần thì điểm dừng chân cũng là điều cần cân nhắc cẩn trọng. Dời lên phía Bắc, chắc chắn sẽ không thuận tiện vì dễ đối mặt với lực lượng quân nhà Minh lớn mạnh. Vì thế, đội quân Hoàng hậu nhà Trần  đã quyết định hướng về vùng núi phía Tây Hà Tĩnh. Ngoại trừ yếu tố vùng đất quê hương nơi chôn nhau cắt rốn của chính bà Trần Thị Ngọc Hào, thì đây còn phải nghĩ tới một vùng rừng núi có vị trí chiến lược quan trọng. Nơi đây khí hậu khắc nghiệt, nắng lắm mưa nhiều không phải thuận lợi, dễ dàng để kẻ thù đàn áp thống trị. Nhưng đây lại là nơi có yếu tố thiên thời cho việc tổ chức kháng chiến. Vùng rừng núi Hà Tĩnh là một vùng hiểm trở, có sông sâu núi cao để thuận bề xây dựng hậu cứ. Hà Tĩnh lại hẹp chiều ngang nên vừa gần núi vừa gần biển, vừa thuận tiện cho các đầu mối giao thông có thể thông thương Nam Bắc hoặc khi cần thiết có thể di chuyển sang nước Ai lao không mấy khó khăn. Không chỉ có núi rừng hiểm trở vùng đất này còn độ phì nhiêu có thể làm ăn phát triển xây dựng hậu cần cho cuộc kháng chiến lâu dài. Chọn vùng đại ngàn Hà Tĩnh, dừng chân ở núi Cóc và núi Trà Lập, với chủ trương khai hoang lập ấp, chiêu tập lực lượng, chiêu dụ dân chúng là điều khả dĩ. Bởi vậy chỉ mấy năm sau bà đã cùng mọi người lập trại tăng gia sản xuất, xây nên một trang trại rộng lớn trong một vùng đất rộng lớn.  Vùng đất của Bà Hoàng hậu xây dựng đã có tới 45 thôn xã trang ấp được thiết lập trên địa bàn 6 tổng của 4 huyện là Hương Sơn, Đức Thọ, Can Lộc, Hương Khê.  Cả một vùng rộng lớn không ngừng được được mở mang từ Lâm Thao - Hòa Duyệt - Thượng Hạ Bồng (nay là huyện Vũ Quang), Đông Công và dọc núi Trà Sơn (huyện Đức Thọ), Ân Phú - Sơn Trà - Sơn Long (huyện Hương Sơn) đến Thượng Nga Lại Thạch (huyện Can Lộc). Sau một thời gian trang trại của Hoàng hậu Bạch Ngọc đã có trên 3000 dân và khai phá được 3965 mẫu ruộng. Điều này cho thấy điểm dừng chân không chỉ có nghĩa là cuộc rút lui bảo toàn lực lượng, mà chính kết quả này cho thấy đội quân đang có sự chuẩn bị mới cho một cuộc kháng chiến lâu dài. Nhìn vào thực tế lịch sử, ngay cả khi đại quân cuộc khởi nghĩa lớn vẫn có lúc quân lương cạn kiệt, lại bị kẻ địch càn quét, thì mới thấu hiểu ý nghĩa chiến lược của việc tổ chức khai hoamg lập ấp của Hoàng hậu Bạch Ngọc.
   Một điểm nữa cũng cần nói tới khi hoàng hậu Bạch Ngọc chọn xây dựng vùng hậu cứ Hà Tĩnh. Ở đây Hoàng hậu Bạch Ngọc đã chọn lựa một vùng có nguồn nhân lực dồi dào tiềm năng chống giặc ngoại xâm. Rõ ràng đại bản doanh của Hoàng hậu không chỉ có thiên thời, địa lợi mà còn nhân hòa. Người dân ở đây nổi tiếng chịu khổ, trung kiên, anh dũng trong việc chống ngoại xâm; là chiếc nôi cách mạng của nhiều triều đại. Hà Tĩnh từng là điểm khởi phát của đội quân Mai Thúc Loan chống nhà Đường, chấm dứt gánh nặng về sự cống nạp của người dân.  Để rồi:                
                                        “Đường đi cống vải, từ nay đứt
                                    Dân nước đời đời hưởng phúc chung”
 Trong những năm đầu của thời kỳ Lý –Trần nhân dân Hà Tĩnh đã thường xuyên đóng góp sức mình vào công cuộc bảo vệ lãnh thổ phương Nam của tổ quốc, đánh bại các cuộc xâm lấn của của các thế lực Chân Lạp, Chămpa.  Hà Tĩnh cùng với Nghệ An luôn là nơi cung cấp sức người, sức của cho mọi cuộc kháng chiến, trở thành chổ dựa vững chắc cho những cuộc huy động nhân tài, vật lực có phiên hiệu phục vụ các cuộc chiến đấu bảo vệ biên cương. Suốt những năm kháng chiến của Nhà Trần chống quân Nguyên Mông Hà Tĩnh luôn luôn là nơi dự trử quân lương của cuộc kháng chiến.  Vua Trần Nhân Tông đã từng tự hào khi nhắc lại rằng:            
                               “Cối kê chuyện cũ ông nên nhớ,
                              Hoan Diễn còn kia chục vạn quân”
Trong những năm tháng người dân theo Hoàng hậu Bạch Ngọc khai hoang, lập ấp;  tại Hà Tĩnh vẫn đang dấy lên nhiều cuộc khởi nghĩa chống lại quân xâm lược mà những người cầm đầu đã từng làm quân thù lo sợ. Phải kể tới là Đặng Tất, Nguyễn Cảnh Chân, Đặng Dung, Nguyễn Cảnh Dị, Nguyễn Biểu, Phan Liêu, Lê Bôi, Nguyễn Tuấn Thiện... Đây cũng là môi trường thuận lợi cho việc xây dựng vùng hậu cứ của đội quân nhà Trần. Điều này thể hiện sự sáng suốt lựa chọn vùng hậu cứ của nhà Trần khi lịch sử càng cho thấy vùng đất này mãi về sau đã xuất hiện nhiều nhân vật lịch sử, nhiều lãnh tụ tiêu biểu của dân tộc ta.
     Nói về sự di dời của Hoàng hậu Bạch Ngọc không thể không nói tới sự thành công trong cách thức tổ chức, xây dựng nơi đứng chân. Cuộc di dời cho thấy đây không phải là cuộc lánh nạn theo đúng ngĩa của nó. Ngay từ khi đừng chân Hoàng hậu đã cùng các thân tín triển khai ngay việc chiêu tập lực lượng, tổ chức ngay việc khai hoang, lập ấp và tiến hành khai khẩn đất hoang tạo nguồn lương thực thực phẩm. Có thể nhìn thấy sự tổ chức chặt chẽ và cẩn mật ở vùng hậu cứ  của Hoàng hậu. Một vùng rộng lớn và sôi động như thế nhưng cũng trong thời gian này, Ngô Cảnh Cẩn kéo quân tới cướp phá vùng trại đầu của họ Đỗ và tìm trang trại của bà nhưng không thể tìm thấy.       Năm1425, Lê Lợi kéo quân vào xứ Nghệ lấy vùng Hương Sơn lập căn cứ kháng chiến và xây dựng phòng tuyến chống giặc Minh. Chỉ sau khi có quan đại tướng Bùi Bị cùng Đinh Lễ - Đinh Bố đánh đuổi và giết chết Ngô Cảnh Cẩn, thì trang trại của bà và công chúa Huy Chân mới bắt đầu xuất hiện. Hoàng hậu Bạch Ngọc và công chúa Huy Chân mới nhận lời cùng  Bùi Bị về gặp vua Lê Lợi. Tướng Bùi Bị đã đưa Hoàng Hậu Bạch Ngọc và Công chúa Huy Chân về yết kiến nhà vua. Trong bối cảnh này Hoàng hậu Bạch Ngọc lại có một quyết định sáng suốt mới là dâng tất cả lương thực chiến đấu, khí giới, tiền của mà quá trình bà đã tổ chức và tích lũy được trong nhiều năm cho triều đình. Chắc chắn mỗi lần nghĩ đến những ngày tháng cam go dựng cờ khởi nghĩa, những lúc quân lương khánh kiệt, bị quân thù bao vây và hình ảnh Lê Lai phải liều mình cứu chúa thì Lê lợi không thể không đánh giá cao về sự hợp tác và đóng góp quan trọng này vào sự thành công của cuộc kháng chiến chống quân Minh. Cảm phục trước tinh thần, chí khí của bà Bạch Ngọc, Lê Lợi và các tướng lĩnh nghĩa quân đã lấy trang trại của bà làm hậu cứ và lập công chúa Huy Chân làm cung phi. Trang trại của Hoàng hậu Bạch Ngọc đã thành nơi tích lũy cung cấp quân lương và trở thành hậu cứ vững chắc cho cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược của vua Lê Lợi đến ngày toàn thắng. Sau khi bình ngô đại cáo được tuyên cáo, vua Thái Tổ đã chấp thuận cho bà lập chùa Diên Quang (chùa Am) ở xã Đức Hòa và chùa Tiên Lữ ỏ xã Đức Lập để Bà làm nơi tu hành; ngày ngày tụng kinh niệm Phật cầu cho Quốc thái dân an, cầu cho vong linh các quân sỹ đã hy sinh vì sự trường tồn đất nước được siêu thoát.
       Hơn 600 năm trôi qua, từ ngày chiến thắng vang dội của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đã có rất nhiều công trình nghiên cứu khoa học dưới những giác độ khác nhau, để lại  nhiều bài học quý giá, những tấm gương sáng về tài năng, trí tuệ và phẩm giá con người cho hậu thế muôn đời. Trong khuôn khổ của bài viết này, chỉ xin nêu một khía cạnh nhỏ về một vài sự lựa chọn, hay cao hơn là những quyết định sáng suốt mang tầm chiến lược của một Hoàng hậu anh minh trong một triều đại anh minh, nhằm góp phần tỏ lòng mến mộ và ghi nhớ công lao đóng góp của Hoàng hậu Bạch Ngọc vào cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc ta./.
                                                                                   8-2012